Đóng

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 2 - Thách thức mới

Trong tiến trình xây dựng Hà Nội trở thành siêu đô thị hiện đại, sáng tạo và có sức cạnh tranh toàn cầu, tương lai của các làng nghề không còn là câu chuyện bảo tồn đơn thuần, mà là bài toán tổ chức lại không gian sản xuất, chuỗi giá trị và sinh kế cộng đồng. Những “điểm nghẽn” này nếu không sớm được tháo gỡ sẽ khiến tiềm năng di sản khó chuyển hóa thành động lực tăng trưởng mới của Thủ đô.

Giữa những triền đê sông Hồng, sông Đáy, nơi hàng trăm làng nghề Hà Nội vẫn ngày đêm đỏ lửa lò gốm, thoăn thoắt bàn tay chạm khắc, khảm trai, dệt lụa, đan mây...một câu hỏi lớn đang được đặt ra: làm thế nào để những “báu vật” được hun đúc qua hàng trăm, hàng nghìn năm tiếp tục sống và được định vị xứng tầm siêu đô thị hiện đại?

Giữ vị trí địa phương có số lượng làng nghề lớn nhất cả nước, Hà Nội sở hữu lợi thế đặc biệt để phát triển kinh tế. Đến hết năm 2025, Hà Nội có 337 làng nghề và nghề truyền thống được công nhận. Trong đó, 202 làng nghề hoạt động trong các lĩnh vực đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, thêu ren, đan lát và cơ khí nhỏ; 75 làng nghề thuộc nhóm chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; 24 làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.

Bên cạnh đó, số liệu của Sở Công Thương Hà Nội cho thấy, hiện địa bàn có 100 làng nghề, làng có nghề có sản phẩm OCOP, với 929 trong tổng số 3.463 sản phẩm OCOP của thành phố là sản phẩm của làng nghề được đánh giá, phân hạng từ 3 sao trở lên. 

Những con số này cho thấy làng nghề không phải một khu vực kinh tế nhỏ lẻ, càng không chỉ là “phần ký ức” cần lưu giữ. Đây là nguồn lực quan trọng đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động nông thôn. Tuy nhiên, so với lợi thế của một địa phương sở hữu hệ thống làng nghề lớn nhất cả nước, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Ghi nhận thực tế của phóng viên Báo Công Thương tại một số địa phương để thấy rõ thực trạng này. Đơn cử như làng nghề khảm trai, sơn mài Chuyên Mỹ, có lịch sử gần 1.000 năm - cái nôi của nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ cao cấp mang đậm bản sắc văn hóa Thăng Long.

Chuyên Mỹ nổi tiếng với các sản phẩm truyền thống như sập gụ, tủ chè, bàn ghế, khay trà, ống trà, tranh khảm trang trí, lọ hoa khảm và nhiều sản phẩm mỹ nghệ cao cấp khác, mang đậm giá trị thẩm mỹ và chiều sâu văn hóa.

Năm 2025, giá trị sản xuất của địa phương ước đạt khoảng 6.900 tỷ đồng, tăng 8,63% so với năm trước; sản phẩm đã có mặt tại nhiều thị trường như châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đặc biệt, đầu năm 2026, Chuyên Mỹ trở thành một trong bốn làng nghề của Hà Nội gia nhập Mạng lưới làng nghề thủ công sáng tạo thế giới khẳng định vị thế của nghề truyền thống trên bản đồ thủ công mỹ nghệ quốc tế.

Những thành tựu đạt được cho thấy sức sống của nghề truyền thống khảm trai sơn mài nơi đây, song cũng phản ánh rõ những thách thức mà Chuyên Mỹ nói chung và nhiều làng nghề nói riêng đang phải đối mặt trong quá trình phát triển như thiếu nguồn nguyên liệu, nhân lực, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún...

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Đình Hân, Bí thư Chi bộ thôn Chuôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ cho biết, tiềm năng của làng nghề khảm trai, sơn mài vẫn còn rất lớn nhưng chưa được khai thác tương xứng.

Đối với người dân địa phương, nghề không chỉ là kế sinh nhai, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều thế hệ, mà còn là niềm tự hào, là sợi dây gắn kết cộng đồng và lưu giữ bản sắc văn hóa của quê hương. Tuy nhiên, thị trường trong nước còn hạn hẹp, trong khi xuất khẩu ngày càng chịu áp lực về thiết kế, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn môi trường.

Theo ông Hân, mô hình sản xuất chủ yếu dựa trên các hộ gia đình với không gian chật hẹp, thiếu vốn đầu tư, giá nguyên liệu liên tục tăng, nguồn lao động kế cận ngày càng khan hiếm, trong khi mỗi sản phẩm thủ công cần nhiều thời gian hoàn thiện.

Những "điểm nghẽn" này không chỉ làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân và khả năng gìn giữ, truyền nối nghề truyền thống cho các thế hệ sau. "Nếu không sớm được tháo gỡ, nguy cơ mai một nghề và thất thoát những giá trị văn hóa tích lũy qua hàng trăm năm là điều hoàn toàn có thể xảy ra", Bí thư Chi bộ thôn Chuôn Ngọ chia sẻ. 

Nhìn từ Chuyên Mỹ, nhiều làng nghề khác cũng đang đối mặt với những khó khăn tương tự. Danh thắng hồ Tây gắn liền với hoa sen bách diệp (trăm cánh) nổi tiếng và nghề ướp trà sen lâu đời. Người dân Hà Nội, nhất là cư dân quanh hồ Tây đã khai thác lợi thế này, hình thành nên nghề ướp trà sen đặc biệt. Kỹ thuật ướp trà sen, thú thưởng thức trà sen đã trở thành một trong những nét đẹp nổi bật của văn hóa Thăng Long-Hà Nội.

Nghề ướp trà sen Quảng An đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Sản phẩm trà sen tây Hồ cũng đã được du khách trong và ngoài nước biết đến với hương vị đặc trưng của Hà Nội. 

Bà Bùi Thị Minh Hằng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Trà sen Quảng An Hương Thủy cho biết, nghề ướp trà sen Quảng An là sự kết tinh giữa hương sen Bách Diệp Hồ Tây và tinh hoa trà Việt, mang đậm dấu ấn văn hóa của Thăng Long - Hà Nội.

Nhằm gắn du lịch với hoạt động sản xuất, thương mại theo chủ trương của thành phố, những năm gần đây, hợp tác xã đã đẩy mạnh các chương trình trải nghiệm, đón nhiều đoàn khách trong nước và quốc tế đến tham quan, góp phần quảng bá giá trị của nghề truyền thống.

Tuy nhiên, theo bà Hằng, vùng nguyên liệu sen Bách Diệp, yếu tố làm nên hương vị đặc trưng của trà sen Tây Hồ - đang ngày càng bị thu hẹp dưới sức ép của quá trình đô thị hóa. Dù hợp tác xã đã mở rộng vùng trồng sang nhiều địa phương khác, chất lượng và hương thơm của sen vẫn không thể sánh với vùng nguyên liệu gốc.

Không chỉ đối mặt với nguy cơ mai một vùng nguyên liệu, nghề ướp trà sen còn chịu sức ép từ đặc thù sản xuất hoàn toàn thủ công, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức nhưng sản lượng thấp, khiến ngày càng ít lao động trẻ gắn bó với nghề.

Cùng với đó, tình trạng nhiều sản phẩm sử dụng hương liệu tổng hợp nhưng vẫn gắn mác "trà sen Tây Hồ" và bán với giá rẻ đang tạo ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và giá trị của các cơ sở sản xuất chân chính.

Thực tế cho thấy, đây chỉ là những ví dụ điển hình, dù sở hữu lợi thế về lịch sử, tay nghề và giá trị văn hóa, nhiều sản phẩm làng nghề Hà Nội vẫn đang dần đánh mất sức cạnh tranh trước áp lực của thị trường hiện đại.

Chỉ ra những thách thức đối với các làng nghề nói chung và Hà Nội nói riêng hiện nay, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho biết, nguyên nhân cốt lõi ở chỗ mô hình kinh doanh của nhiều làng nghề chưa theo kịp sự thay đổi của thị trường. Lợi thế truyền thống đang dần bị bào mòn bởi những hạn chế về năng suất, chất lượng đổi mới sáng tạo và xây dựng thương hiệu.

"Nếu nhìn ở góc độ kinh tế học, đây là quá trình suy giảm lợi thế cạnh tranh do cả yếu tố nội tại và ngoại cảnh. Nội tại là năng suất, quản trị và đổi mới sáng tạo còn hạn chế; ngoại cảnh là nhu cầu tiêu dùng thay đổi nhanh, cạnh tranh toàn cầu và yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, môi trường và truy xuất nguồn gốc", chuyên gia Nguyễn Minh Phong phân tích. 

Thực tế cho thấy, những khó khăn của làng nghề Hà Nội không còn là câu chuyện riêng của từng cơ sở sản xuất mà đã trở thành bài toán về mô hình phát triển. Khi dư địa tăng trưởng theo phương thức truyền thống dần thu hẹp, yêu cầu đặt ra là cần hình thành chuỗi liên kết huy động nguồn lực trong quá trình tái cấu trúc toàn diện về không gian cho các làng nghề.

Về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở việc Hà Nội thiếu di sản, thiếu nghề hay thiếu nghệ nhân, mà là chưa hình thành được chuỗi giá trị đủ mạnh để đưa giá trị văn hóa đi từ di sản đến sáng tạo, sản phẩm, thương hiệu và thị trường.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, “biến di sản thành tài sản” không có nghĩa là thương mại hóa bằng mọi giá, mà là quá trình nhận diện, định giá và tổ chức lại nguồn lực văn hóa để cộng đồng có thể sống tốt hơn bằng chính di sản của mình.

Hà Nội cần tháo gỡ đồng thời ba nút thắt: thiếu thiết kế và đổi mới sáng tạo; thiếu thương hiệu, sở hữu trí tuệ và năng lực tiếp cận thị trường; thiếu cơ chế điều phối kết nối nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp, công nghệ, du lịch và thương mại”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn chỉ ra.

Đặc biệt, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, việc liên kết chuỗi sản xuất, thu hút đầu tư sẽ là trợ lực đưa hàng thủ công mỹ nghệ hội nhập khu vực và toàn cầu.

Cùng quan điểm, nghệ nhân Hà Thị Vinh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội cho rằng, muốn làng nghề phát triển bền vững thì trước hết phải tái cấu trúc chuỗi sản xuất một cách đồng bộ và bài bản.

Theo nghệ nhân Hà Thị Vinh, việc hình thành các khu sản xuất tập trung, hạ tầng đồng bộ, môi trường sản xuất thân thiện cùng các trung tâm thiết kế, sáng tạo, trưng bày và xúc tiến thương mại sẽ giúp làng nghề chuyển từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang chuỗi giá trị hiện đại.

Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, môi trường sản xuất được cải thiện và các dịch vụ hỗ trợ được phát triển, làng nghề sẽ nâng cao sức hấp dẫn đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư.

"Đây là tiền đề quan trọng để huy động nguồn lực đầu tư từ xã hội, thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển thương hiệu, mở rộng xuất khẩu và thu hút nhân lực trẻ. Qua đó, từng bước đưa làng nghề trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa của Hà Nội", nghệ nhân Hà Thị Vinh khẳng định.

Bên cạnh việc đầu tư đồng bộ hạ tầng và tái cấu trúc không gian sản xuất, thách thức lớn đối với các làng nghề hiện nay nằm ở chính năng lực nội tại của doanh nghiệp và địa phương. Quy hoạch Thủ đô và các cơ chế mới chỉ tạo ra cơ hội, còn việc biến cơ hội thành tăng trưởng phụ thuộc vào khả năng đổi mới của từng cơ sở sản xuất.

Để hiện thực hóa những mục tiêu mà Quy hoạch Thủ đô và các chủ trương lớn đã đặt ra, nỗ lực của doanh nghiệp làng nghề thôi chưa đủ. Trong bối cảnh yêu cầu của thị trường ngày càng cao về chất lượng, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và năng lực cạnh tranh, vai trò kiến tạo của Nhà nước, đặc biệt là sự đồng hành của các bộ, ngành và chính quyền địa phương, trở thành yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp chuyển đổi mô hình phát triển.

Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, thời gian qua, Bộ Công Thương đã cùng các địa phương, trong đó có Hà Nội, triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề. 

Theo báo cáo kết quả triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 30/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Công Thương đang chuyển mạnh tư duy từ hỗ trợ sản xuất đơn thuần sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển công nghiệp xanh, công nghiệp số và phát triển bền vững, trong đó lấy doanh nghiệp làm động lực, người dân là chủ thể và văn hóa là nguồn lực cho tăng trưởng.

Đối với lĩnh vực làng nghề và công nghiệp nông thôn, Bộ Công Thương tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, tôn vinh nghệ nhân, hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến, chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử đến xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Cùng với đó, Bộ Công Thương chú trọng hình thành hệ sinh thái sản xuất - sáng tạo - tiêu dùng đối với các sản phẩm mang bản sắc Việt Nam. Thông qua hệ thống khuyến công, các mô hình trình diễn kỹ thuật, hội chợ, triển lãm, bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu và các chương trình xúc tiến thương mại đã trở thành cầu nối giữa bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống với phát triển kinh tế nông thôn. 

Chia sẻ về định hướng phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội Phạm Tuấn Long cho rằng, lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Hà Nội không chỉ nằm ở quy mô hay vị trí địa kinh tế, mà ở kho tàng di sản văn hóa đặc sắc được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử. Vì vậy, Quy hoạch Thủ đô xác định văn hóa và di sản là nền tảng để kiến tạo các cực tăng trưởng mới, trong đó các làng nghề truyền thống sẽ trở thành một cấu phần quan trọng của không gian văn hóa sáng tạo và công nghiệp văn hóa.

Kỳ 3: Những "hạt nhân" tiên phong hiện thực hóa "làng trong phố"

Nhóm phóng viên