Đóng

Liên kết “3 nhà” để đào tạo nhân lực nông nghiệp đáp ứng yêu cầu mới

Thúc đẩy mô hình liên kết 3 nhà theo hướng thực chất, đồng hành từ đào tạo, nghiên cứu đến thương mại hóa công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tiễn

Chiều 14/5, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị “Thúc đẩy liên kết Nhà nước - Đại học - Doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW”, kết hợp chương trình kết nối doanh nghiệp và Ngày hội việc làm dành cho sinh viên.

GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Phát biểu khai mạc hội nghị, GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho biết, yêu cầu đổi mới mô hình liên kết đặc biệt cấp thiết đối với lĩnh vực nông nghiệp và môi trường trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức như chuyển đổi xanh, nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và nâng cao giá trị gia tăng của nông sản trong hội nhập quốc tế.

Để giải quyết các bài toán trên, không thể chỉ một bên thực hiện riêng lẻ. Nhà nước không chỉ ban hành chính sách; nhà trường không thể chỉ đào tạo trong giảng đường; doanh nghiệp cũng không chỉ tham gia ở khâu tuyển dụng sau đào tạo.

“Chúng ta cần một mô hình liên kết sâu hơn, thực chất hơn, đồng hành trong toàn bộ quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực”, bà Lan nhấn mạnh.

Những năm gần đây, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hình thành nhiều mô hình hợp tác với doanh nghiệp như đào tạo theo đặt hàng, lớp tài năng có doanh nghiệp đồng hành, doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo, phối hợp đưa sinh viên thực tập tại doanh nghiệp, vùng nguyên liệu và hợp tác xã.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo Học viện, yêu cầu của Nghị quyết 71-NQ/TW đòi hỏi sự liên kết toàn diện hơn giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đào tạo đến nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ.

Thúc đẩy mô hình “đồng hành - đồng thiết kế - đồng đào tạo”

Chia sẻ tại hội nghị, GS. TS Phạm Văn Cường, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng liên kết giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt trong đào tạo theo đặt hàng và chuyển giao công nghệ.

Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Theo ông Cường, số lượng chương trình đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp còn hạn chế; nhiều sản phẩm nghiên cứu có tiềm năng nhưng tỷ lệ thương mại hóa thành công chưa cao. Một trong những nguyên nhân là cơ chế triển khai còn nhiều rủi ro, thiếu tổ chức trung gian hỗ trợ đánh giá, kết nối và thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ.

Từ kinh nghiệm quốc tế, nhiều quốc gia đã xây dựng mô hình liên kết hiệu quả giữa trường đại học và doanh nghiệp. Tại Anh, các trường có trung tâm đổi mới sáng tạo để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn. Hà Lan phát triển mô hình hợp tác công - tư với sự tham gia sâu của doanh nghiệp và cơ chế chia sẻ rủi ro từ Nhà nước. Trong khi đó, các viện nghiên cứu tại Đức hoạt động như cầu nối với doanh nghiệp và định hướng sản phẩm theo nhu cầu thị trường.

Ông Cường cho rằng, liên kết “3 nhà” cần chuyển từ “phối hợp” sang “cùng làm”, trong đó các bên cùng xác định nhu cầu nhân lực, cùng xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực hành, nghiên cứu, đánh giá kết quả và thương mại hóa sản phẩm. Đồng thời, đề xuất phát triển mô hình “đồng hành - đồng thiết kế - đồng đào tạo”, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo nhân lực; xây dựng cơ chế điều phối liên kết “3 nhà” từ Trung ương đến địa phương; lựa chọn thí điểm mô hình liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.

"Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nhiều ngành như chăn nuôi, thú y, thủy sản hay phát triển kinh tế biển đang thiếu hụt nhân lực nhưng số lượng thí sinh lựa chọn còn ít. Do đó, cần có cơ chế hỗ trợ từ Nhà nước như đào tạo theo đặt hàng, cấp học bổng hoặc hỗ trợ học phí cho các ngành đặc thù", ông Cường cho hay.

Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, ngành nông nghiệp và môi trường được giao mục tiêu tăng trưởng từ 3,6 - 4% trong giai đoạn tới. Để đạt mục tiêu này, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng ngành.

Theo ông Long, yêu cầu đặt ra hiện nay là mọi nhiệm vụ khoa học công nghệ phải xuất phát từ thực tiễn sản xuất, từ nhu cầu của doanh nghiệp, người dân và địa phương. “Chúng ta phải trả lời được câu hỏi thị trường cần gì, ngành đang thiếu gì để đặt hàng nghiên cứu phù hợp”, ông Long nhấn mạnh.

Cũng theo ông Long, dù số lượng nhiệm vụ khoa học công nghệ triển khai thời gian qua khá lớn nhưng hiệu quả thương mại hóa còn hạn chế. Giai đoạn 2021 - 2025, ngành đã triển khai hơn 1.200 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp bộ, song số lượng sản phẩm thực sự đi vào sản xuất và thị trường vẫn còn thấp. Đây được xem là “điểm nghẽn” lớn của hoạt động nghiên cứu khoa học trong ngành nông nghiệp hiện nay.

Từ thực tế đó, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị đề nghị các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đổi mới mạnh mẽ tư duy liên kết theo hướng thực chất, hiệu quả và cùng tạo ra giá trị. Các trường đại học cần chuyển mạnh sang mô hình đại học đổi mới sáng tạo, đại học khởi nghiệp; đồng thời cập nhật chương trình đào tạo theo xu hướng công nghệ mới, tăng cường thực hành, trải nghiệm thực tế và nâng cao năng lực thích ứng cho sinh viên.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị, doanh nghiệp cần coi trường đại học là đối tác chiến lược về công nghệ và nhân lực; chủ động đặt hàng nghiên cứu, tham gia đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập và đầu tư cho hoạt động nghiên cứu - phát triển.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng xác định ưu tiên phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững, tập trung vào các lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ giống, nông nghiệp số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ môi trường. Các bên cần phối hợp xây dựng chương trình nghiên cứu chung, phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm đổi mới sáng tạo và các mô hình trình diễn công nghệ gắn với nhu cầu thực tiễn của địa phương và doanh nghiệp.

Đặc biệt, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh kinh tế xanh và kinh tế số. Theo đó, sinh viên không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải có tư duy đổi mới sáng tạo, năng lực hội nhập và khả năng thích ứng với công nghệ mới. 

Trong thời gian tới, Học viện Nông nghiệp Việt Nam sẽ thúc đẩy cơ chế đào tạo theo đặt hàng giữa Nhà nước, doanh nghiệp, địa phương và nhà trường; đồng thời định hướng hoạt động nghiên cứu khoa học theo nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương. Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng hệ sinh thái thực tập, việc làm và khởi nghiệp cho sinh viên theo hướng thực chất hơn, giúp sinh viên tiếp cận doanh nghiệp sớm hơn và tham gia trực tiếp giải quyết các bài toán thực tiễn.

Nguyễn Hạnh