Đóng

Liên kết doanh nghiệp Việt - FDI: Định hướng lớn từ Nghị quyết 10-NQ/TW

Vốn FDI đã trở thành nguồn lực quan trọng của nền kinh tế nhưng sức lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế. Do đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu thiết lập cơ chế liên kết thực chất, hiệu quả giữa hai khu vực doanh nghiệp.

Vẫn còn khoảng cách

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, xác định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế; là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; là nguồn cung ứng vốn chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, tiêu chuẩn quốc tế; là cầu nối mở rộng thị trường và tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; là kênh truyền thông, quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tích cực vào gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới”.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ảnh: TTXVN

Theo báo cáo tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng”, đến giữa năm 2026, cả nước có 41.874 doanh nghiệp FDI đang hoạt động, với 47.132 dự án còn hiệu lực và tổng vốn đăng ký trên 562,7 tỷ USD. Đây là nguồn lực lớn đối với tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, quy mô đầu tư lớn chưa đồng nghĩa với sức lan tỏa tương xứng.

Dù vậy, điểm nghẽn hiện nay nằm ở mối liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp FDI đã hiện diện ngày càng sâu trong nền kinh tế, song quan hệ sản xuất, cung ứng, chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường với doanh nghiệp Việt Nam còn lỏng lẻo. Tỷ lệ nội địa hóa tại nhiều ngành chưa cao; hoạt động chuyển giao công nghệ còn hạn chế; phần đông doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng lớn.

Vấn đề hiện nay không còn nằm ở việc có thu hút được FDI hay không, mà là nền kinh tế trong nước đã tiếp nhận, hấp thụ và chuyển hóa được bao nhiêu nguồn lực từ khu vực này.

Một nền kinh tế có thể thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài rất lớn, đạt kim ngạch xuất khẩu cao, hình thành nhiều trung tâm sản xuất quy mô toàn cầu, nhưng sức mạnh nội sinh vẫn khó được củng cố nếu doanh nghiệp trong nước đứng ngoài chuỗi cung ứng. Khi nguyên liệu, linh kiện, thiết bị và dịch vụ hỗ trợ chủ yếu được nhập khẩu hoặc cung cấp bởi các doanh nghiệp nước ngoài, giá trị giữ lại trong nước sẽ hạn chế.

Nếu kéo dài, FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ tiếp tục tồn tại như hai khu vực tương đối tách biệt. Đây chính là hạn chế Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu phải khắc phục.

Biến các nguồn lực thành năng lực của nền kinh tế

Thu hút đầu tư không chỉ được đánh giá bằng số dự án, tổng vốn đăng ký, diện tích đất sử dụng hay giá trị xuất khẩu. Hiệu quả còn được đo bằng mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, khả năng chuyển giao tri thức, số lượng nhà cung ứng Việt Nam được hình thành, tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam. Muốn vậy, doanh nghiệp tư nhân trong nước phải có điều kiện tham gia, học hỏi và từng bước vươn lên trong chuỗi giá trị . Kinh tế nhà nước phải đầu tư và dẫn dắt ở những lĩnh vực nền tảng, chiến lược , tạo hạ tầng và dư địa phát triển cho các khu vực khác. Cả 3 khu vực kinh tế trên không phát triển rời rạc mà phải hợp tác và cùng cộng hưởng trong một chiến lược chung”.

Chỉ đạo trên cho thấy liên kết doanh nghiệp không phải hoạt động mang tính khuyến khích đơn thuần. Đây là điều kiện để xây dựng năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Liên kết thực chất vì thế phải dựa trên lợi ích lâu dài của các bên, được thể hiện qua chương trình hợp tác, dự án đầu tư, hợp đồng cung ứng và đơn hàng cụ thể.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa của các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%; khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI, trong đó có 500-1.000 nhà cung ứng cấp 1. Đây là những chỉ tiêu cụ thể nhằm gia tăng mức độ lan tỏa của FDI và khắc phục tình trạng doanh nghiệp Việt Nam mắc kẹt tại các phân khúc có giá trị thấp.

Để đạt được, cơ quan quản lý không thể chỉ tổ chức hội nghị kết nối, ký kết biên bản ghi nhớ hoặc xây dựng danh sách doanh nghiệp có nhu cầu hợp tác. Kết nối phải dẫn đến hợp đồng; hỗ trợ phải giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn; chuyển giao phải tạo ra năng lực sản xuất mới.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đặt vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở một tầm cao mới. Ảnh: Cấn Dũng

Quan trọng hơn, chính sách thu hút FDI phải gắn chặt với mục tiêu phát triển doanh nghiệp Việt Nam. Những dự án có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, sử dụng nhiều nhà cung ứng trong nước và có cam kết đào tạo, chuyển giao tri thức cần được ưu tiên. Ngược lại, phải thận trọng với những dự án sử dụng nhiều tài nguyên, phụ thuộc nhập khẩu, liên kết nội địa thấp hoặc chủ yếu tận dụng lợi thế lao động giá rẻ.

Thiết lập cơ chế liên kết

Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu: “Có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập, từng bước tăng tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần, mua công nghệ, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong các ngành công nghệ chiến lược, các doanh nghiệp có công nghệ truyền thống ở nước ngoài, bảo đảm cơ chế hỗ trợ tuân thủ các cam kết quốc tế”.

Yêu cầu trên cho thấy Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đặt vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở một tầm cao mới. Mục tiêu không dừng ở việc doanh nghiệp trong nước tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ hay trở thành một mắt xích phụ trợ trong chuỗi sản xuất của khu vực FDI, mà phải từng bước tham gia sâu hơn vào vốn, công nghệ, quản trị và quyền quyết định trong doanh nghiệp.

Thực tế trong thời gian dài, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tiếp cận khu vực đầu tư nước ngoài với vị thế bên cung ứng, gia công hoặc thầu phụ. Mối liên kết vì thế còn lỏng lẻo, giá trị gia tăng thấp, khả năng học hỏi công nghệ và nâng cao năng lực quản trị chưa tương xứng với quy mô vốn FDI đã thu hút. Nghị quyết 10 yêu cầu khắc phục điểm nghẽn này bằng những công cụ cụ thể hơn như liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập, mua cổ phần, mua công nghệ và tiếp nhận chuyển giao công nghệ.

Đáng chú ý, nghị quyết không đặt doanh nghiệp Việt Nam ở vị thế thụ động chờ doanh nghiệp nước ngoài chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp trong nước phải chủ động tìm kiếm, đàm phán, mua lại và từng bước làm chủ công nghệ, nhất là trong các ngành công nghệ chiến lược. Khi có cơ chế hỗ trợ phù hợp, doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào những khâu có giá trị gia tăng cao, rút ngắn quá trình tích lũy năng lực và từng bước hình thành các doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt chuỗi sản xuất trong nước.

Vấn đề tiếp theo là trách nhiệm của doanh nghiệp FDI. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam cần đồng hành trong phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Trách nhiệm này phải được cụ thể hóa ngay từ giai đoạn xem xét và triển khai dự án. Doanh nghiệp FDI cần có kế hoạch sử dụng nhà cung ứng trong nước, chương trình đào tạo doanh nghiệp vệ tinh, lộ trình nâng tỷ lệ nội địa hóa và cơ chế đánh giá kết quả hằng năm. Những cam kết ấy phải gắn với chính sách khuyến khích, ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước.

Được biết, Bộ Tài chính đã đề xuất thiết lập cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI; lựa chọn các ngành có khả năng lan tỏa cao để xây dựng chuỗi giá trị. Kết quả liên kết được đánh giá bằng tỷ lệ mua sắm trong nước, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa, giá trị hợp đồng, số dự án chuyển giao công nghệ và số lao động kỹ thuật được đào tạo.

Khi doanh nghiệp Việt Nam thực sự có chỗ đứng trong chuỗi giá trị, nguồn vốn FDI mới trở thành năng lực nội sinh, góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ và đủ sức cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới.

Nghị quyết số 10-NQ/TW: Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hà Trang