Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 nêu rõ, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số” gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Cụ thể, Kết luận số 18-KL/TW đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên; đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, an toàn và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng trở nên quan trọng.
Theo ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Việt Nam đang đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030.
“Để hiện thực hóa mục tiêu này, điều kiện tiên quyết là phải bảo đảm nguồn cung điện ổn định, an toàn, liên tục và có chi phí hợp lý. Đồng thời, hệ thống năng lượng cũng phải đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh, giảm phát thải và hội nhập với các tiêu chuẩn phát triển bền vững của thế giới. Có thể nói, an ninh năng lượng và chuyển dịch xanh không còn là hai mục tiêu riêng rẽ mà đã trở thành hai trụ cột song hành của chiến lược phát triển quốc gia” - ông Hoàng Quang Phòng cho biết.
Trong khi đó, theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng mạnh cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Dự báo, tốc độ tăng nhu cầu điện giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 10 - 12%/năm; giai đoạn 2030 - 2035 duy trì ở mức 7 - 7,5%/năm. Điều này đặt ra yêu cầu rất lớn về đầu tư hạ tầng năng lượng, đặc biệt là phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và các giải pháp phục vụ chuyển đổi năng lượng theo hướng bền vững. Riêng giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn đầu tư cho năng lượng của Việt Nam ước tính trên 77 tỷ USD, tương đương hơn 15 tỷ USD/năm.
Trước yêu cầu đó, Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu, đến năm 2030 bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp năng lượng đầy đủ, ổn định, chất lượng cao, giảm phát thải phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái.
Đến năm 2045, ngành năng lượng được định hướng phát triển đồng bộ, bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu; hệ thống hạ tầng năng lượng thông minh, hiện đại, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế.
Một trong những giải pháp quan trọng được Nghị quyết số 70-NQ/TW xác định là, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng thông qua thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn đến năm 2030 và Chương trình quản lý nhu cầu điện quốc gia.
Nghị quyết cũng yêu cầu cơ cấu lại, khuyến khích phát triển các ngành sử dụng hiệu quả năng lượng, đem lại lợi ích cao nhất về kinh tế - xã hội; quy định cụ thể các tiêu chí bắt buộc về tiết kiệm năng lượng cho từng ngành, lĩnh vực và địa phương.
Cùng với đó là đẩy mạnh cải tiến công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về hiệu suất năng lượng đối với thiết bị, máy móc, phương tiện giao thông và công trình xây dựng; từng bước loại bỏ thiết bị, máy móc, phương tiện có hiệu suất sử dụng năng lượng thấp, phát thải môi trường cao; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới, hiệu suất cao.
Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu nghiên cứu, hình thành quỹ về phát triển năng lượng bền vững nhằm thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường; có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tự sản xuất và sử dụng năng lượng sạch.
Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 19/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg về tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện.
Chỉ thị xác định sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm giảm thiểu rủi ro về nguồn cung năng lượng, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời góp phần bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia và phát triển bền vững.
Một số mục tiêu cụ thể được đặt ra đến năm 2030 gồm: giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm; phấn đấu đạt tỷ lệ tiết kiệm điện tối thiểu 3%/năm đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; giảm điện năng dùng cho truyền tải và phân phối trên toàn hệ thống xuống còn 5,8%; 100% cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng; tối thiểu 50% phương tiện công cộng tại các thành phố chuyển sang sử dụng xe điện.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Lê Đăng Doanh - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - cho rằng, Chỉ thị số 09/CT-TTg cho thấy cách tiếp cận rõ ràng, kịp thời của Chính phủ trước những biến động phức tạp của thị trường năng lượng toàn cầu.
Đặc biệt, trong bối cảnh nguồn cung dầu mỏ, khí đốt có thể bị gián đoạn và giá năng lượng biến động, việc nhấn mạnh tiết kiệm năng lượng, đồng thời chuyển dịch sang các dạng năng lượng mới là lựa chọn mang tính chiến lược.
Đáng chú ý, phát triển giao thông điện được đặt trong tổng thể các giải pháp về tiết kiệm năng lượng, chuyển dịch năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây không chỉ là câu chuyện về môi trường hay xu hướng công nghệ, mà còn gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu truyền thống và gia tăng tính chủ động của nền kinh tế.
Theo TS. Lê Đăng Doanh, xu hướng chuyển từ xe xăng sang xe điện tại Việt Nam đã bắt đầu hình thành và có những điều kiện thuận lợi để tăng tốc. Trong bối cảnh chi phí năng lượng tăng và giá xăng dầu thế giới còn nhiều biến động, người tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn tới phương tiện điện với chi phí vận hành thấp hơn.
Chỉ thị số 09/CT-TTg không chỉ khuyến khích sử dụng xe điện mà còn đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng sạc, hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như xây dựng các cơ chế hỗ trợ. Đây là những yếu tố nền tảng để thị trường xe điện phát triển bền vững, thay vì tăng trưởng tự phát. Sự tham gia của doanh nghiệp trong phát triển sản phẩm, công nghệ và hệ sinh thái dịch vụ cũng đang tạo thêm lực đẩy cho thị trường.
Hưởng ứng chủ trương của Bộ Chính trị và Chính phủ, ngày 13/4/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 824/QĐ-BCT về kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị số 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện.
Ông Hoàng Quang Phòng cho rằng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện là xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Quá trình chuyển dịch này không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng không khí, nhất là tại các đô thị lớn.
Thực tế, thị trường phương tiện Việt Nam đang ghi nhận sự dịch chuyển rõ nét. Ở mảng xe máy, theo MotorCycles Data, doanh số toàn thị trường trong 7 tháng năm 2026 đạt 1,86 triệu chiếc, tăng 19,6% so với cùng kỳ. Xu hướng chuyển đổi sang phương tiện điện ngày càng rõ hơn trong lựa chọn của người tiêu dùng.
Ở thị trường ôtô, trong 7 tháng năm 2026, toàn thị trường tiêu thụ 387.849 xe, tăng 28,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Sự phát triển của thị trường phương tiện điện cho thấy giao thông điện đang từng bước trở thành một cấu phần quan trọng trong quá trình sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và chuyển dịch sang các dạng năng lượng mới.
Một trong những yếu tố hỗ trợ trực tiếp cho sức mua là chính sách lệ phí trước bạ. Theo Nghị định số 51/2025/NĐ-CP, ôtô điện chạy pin tiếp tục được áp dụng mức lệ phí trước bạ lần đầu 0% đến hết ngày 28/2/2027. Chính sách này giúp người mua giảm đáng kể chi phí lăn bánh so với ôtô sử dụng xăng, dầu có cùng mức giá.
Số liệu của Bộ Tài chính cũng cho thấy, lượng ôtô điện chạy pin đăng ký lệ phí trước bạ lần đầu tăng từ 4.040 xe năm 2022 lên 29.281 xe năm 2023 và 79.781 xe năm 2024. Những con số này cho thấy xu hướng chuyển dịch từ phương tiện sử dụng nhiên liệu truyền thống sang phương tiện điện đang ngày càng rõ nét.
Tuy nhiên, theo TS. Lê Đăng Doanh, để thúc đẩy chuyển dịch từ xe xăng sang xe điện, hạ tầng phải đi trước một bước, nếu không sẽ trở thành điểm nghẽn của toàn bộ quá trình.
Theo đó, trước hết cần phát triển hệ thống trạm sạc và hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan, đồng thời có quy hoạch tổng thể, bảo đảm độ phủ đủ rộng và phân bố hợp lý, không chỉ tại các đô thị lớn mà cả trên các trục giao thông liên vùng. Nếu người sử dụng còn lo ngại về khả năng sạc điện trong quá trình di chuyển thì rất khó thúc đẩy chuyển đổi.
Bên cạnh đó, cần bảo đảm năng lực của hệ thống điện. Khi số lượng xe điện tăng nhanh, nhu cầu phụ tải sẽ gia tăng, đòi hỏi phát triển lưới điện thông minh, có khả năng điều tiết phụ tải, kết hợp các giải pháp lưu trữ năng lượng nhằm giảm áp lực cho hệ thống.
Việc tích hợp hạ tầng sạc trong quy hoạch đô thị và xây dựng cũng cần được tính toán ngay từ đầu. Bố trí trạm sạc tại khu đô thị, bãi đỗ xe, trung tâm thương mại sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng phương tiện điện.
Cùng với hạ tầng kỹ thuật, hệ sinh thái hỗ trợ cũng cần được phát triển đồng bộ, đặc biệt là công nghệ pin, thiết bị sạc, cơ chế tài chính thu hút doanh nghiệp đầu tư và hệ thống thu hồi, tái chế pin nhằm hạn chế tác động tới môi trường.
Qua đó, tiết kiệm năng lượng không chỉ được thực hiện trong sản xuất, truyền tải và tiêu thụ điện mà đang được mở rộng sang lĩnh vực giao thông thông qua chuyển đổi phương tiện và sử dụng các dạng năng lượng hiệu quả hơn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp tiết kiệm năng lượng, chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện sẽ góp phần giảm áp lực lên nguồn cung, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn tăng trưởng mới.