Đóng

Longform | Toàn cảnh xuất khẩu Việt Nam và giải pháp tăng trưởng 2 con số - Kỳ 2: Nhìn ra thế giới

Một chiếc điện thoại "made in Vietnam" xuất khẩu chỉ giữ lại chưa tới nửa giá trị trong nước. Thế giới đã giải bài toán này thế nào?

Sau những con số kim ngạch ấn tượng, có một câu hỏi được đặt ra: Trong mỗi đồng hàng xuất khẩu, bao nhiêu phần là giá trị do chính Việt Nam tạo ra? Phần lớn động lực tăng trưởng hiện nay vẫn đến từ công đoạn gia công, lắp ráp dựa trên máy móc, nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu. Theo thống kê của Bộ Công Thương, tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử của Việt Nam hiện chỉ khoảng 5 - 10%. Đó cũng là một phần lý do mỗi khi xuất khẩu điện tử tăng tốc thì nhập khẩu đầu vào lại tăng theo, như nhịp nhập siêu nửa đầu năm 2026 đã nói ở kỳ trước.

Điều này cần được nhìn một cách cân bằng. Nhập nhiều tư liệu đầu vào để sản xuất rồi xuất khẩu là một chặng tự nhiên trong quá trình hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu, không phải dấu hiệu yếu kém, và càng không có nghĩa Việt Nam chỉ là nơi gia công thuần túy. Hầu hết các nền kinh tế công nghiệp hóa thành công, từ Hàn Quốc, Trung Quốc đến Thái Lan, đều khởi đầu đúng từ vị trí ấy rồi nâng dần hàm lượng nội địa theo thời gian. Vấn đề đặt ra với Việt Nam, vì thế, không phải nhập khẩu nhiều hay ít, mà là làm sao để qua từng năm, phần tự sản xuất được ngày một nhiều hơn phần đang phải nhập, giữ lại trong nước nhiều giá trị hơn trên mỗi đồng kim ngạch. Cách thiết thực để tìm lời giải là nhìn sang những nền kinh tế đã đi qua chặng đường này, và đó chính là nội dung trọng tâm của bài.

Để hiểu vì sao giá trị giữ lại ít, phải nhìn vào hai khối doanh nghiệp đang cùng dệt nên bức tranh xuất khẩu Việt Nam.

Khối thứ nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là động lực số một về tốc độ và quy mô. Nhiều năm liền khối này chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu cả nước: 71,7% năm 2019, khoảng 73 đến 74% các năm 2021 và 2022, rồi 71,8% năm 2024 và 77,3% năm 2025.

Đến 5 tháng đầu 2026, theo Cục Xuất nhập khẩu, tỷ trọng xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vọt lên một đỉnh cao bất thường là 79,8%, tương ứng 172,16 tỷ USD và tăng tới 24,7% so với cùng kỳ. Đà phục hồi xuất khẩu nửa đầu 2026 phụ thuộc rất lớn vào khối ngoại.

Tâm điểm của khối này là điện tử, và tâm điểm của điện tử là một cái tên – Samsung. Theo báo cáo hợp nhất kiểm toán của Samsung Electronics, trong năm 2025, 4 nhà máy chính tại Việt Nam bao gồm Samsung Thái Nguyên (SEVT), Samsung Bắc Ninh (SEV), Samsung Display Vietnam (SDV), và Samsung Electronics HCMC CE Complex (SEHC) mang về doanh thu khoảng 62,1 tỷ USD, tăng 8% so với năm trước.

Con số này tương đương 25% tổng doanh thu của Samsung Electronics trong năm ngoái dù Việt Nam hứng chịu nhiều thiên tai và tác động của thuế đối ứng.

Nếu tính trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt của Việt Nam năm 2025 (475 tỷ USD), tổng doanh thu của 6 công ty cốt lõi của Samsung đạt 65 tỷ USD, chiếm 13,7%. Tỷ lệ này không thay đổi nhiều so với con số năm 2024. 

Cùng với Samsung còn là hàng loạt các tập đoàn lớn khác như LG, Foxconn... Sự hiện diện của các "đại bàng ấy" là điều đáng mừng. Điểm cần lưu tâm là phần lớn nhà cung ứng đi theo họ hiện vẫn là các doanh nghiệp vệ tinh nước ngoài, còn doanh nghiệp Việt mới tham gia được ở mức hạn chế. Đây chính là dư địa để công nghiệp hỗ trợ trong nước vươn lên trong những năm tới, biến sự có mặt của các tập đoàn lớn thành cơ hội học hỏi và kết nối.

Khối thứ hai là doanh nghiệp trong nước. Đây mới là nơi giá trị thực ở lại nền kinh tế, là nơi gửi gắm mục tiêu tăng trưởng bền vững, nhưng cũng là mắt xích cần được tiếp sức nhiều nhất. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 5 tháng đầu 2026, xuất khẩu của khối nội chỉ đạt khoảng 43,5 tỷ USD, chiếm 20,5% và tăng 2,5%, trong khi khối ngoại tăng 24,7%.

Khối nội mạnh ở những ngành dựa trên tài nguyên đất đai, biển cả và lao động trong nước, nơi doanh nghiệp Việt nắm vai chế biến và xuất khẩu chủ đạo. Đơn cử, xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2026 đạt 4,28 triệu tấn về lượng, trị giá đạt hơn 2 tỷ USD; Hàng thuỷ sản đạt 4,67 tỷ USD, tăng 11,0% so với cùng kỳ năm 2025; Hàng rau quả đạt 2,77 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2025; Xuất khẩu hạt điều 5 tháng đầu năm 2026 đạt 268,4 nghìn tấn về lượng, tương đương trị giá đạt 1,88 tỷ USD, giảm 3,0% về lượng và giảm nhẹ 0,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025…

Ở nhóm công nghiệp, xuất khẩu dệt may 5 tháng đạt 18,8 tỷ USD, da giày và túi xách cả năm 2025 khoảng 29 tỷ USD, đứng thứ hai thế giới về kim ngạch. Thép Hòa Phát vươn tới năng lực 16 triệu tấn một năm và xuất khẩu thép cuộn cán nóng sang EU với mức thuế chống bán phá giá 0%, trong khi doanh nghiệp Việt khác chịu tới 12,1%.

Những con số ấy cho thấy doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể làm nên chuyện. Đã có một lớp đầu đàn vươn ra thế giới bằng thương hiệu của chính mình: Vĩnh Hoàn dẫn dắt ngành cá tra, Minh Phú trong nhóm nhà xuất khẩu tôm lớn nhất hành tinh, Vinamilk hiện diện ở 65 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhưng đó vẫn là những ngọn núi đơn lẻ chứ chưa thành một dãy. Phần lớn doanh nghiệp nội vẫn ở quy mô nhỏ, vốn mỏng, công nghệ còn hạn chế, chưa dễ đáp ứng quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn xanh, nên cần được nâng đỡ để vượt lên khỏi phân khúc gia công giá trị thấp.

Nếu chỉ có hai khối mạnh yếu khác nhau thì chưa thành chuyện lớn. Chuyện lớn nằm ở chỗ hai khối ấy gần như không gối đầu vào nhau, và đó mới là nút thắt quyết định liệu tăng trưởng hai con số có bền hay không.

Câu chuyện chuỗi cung ứng của Samsung là minh chứng sống động nhất. Quanh tổ hợp này có khoảng 50 doanh nghiệp là nhà cung ứng cấp một và khoảng 170 doanh nghiệp cấp hai. Nghe qua tưởng như công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã chen được vào chuỗi. Nhưng phần lớn các nhà cung ứng nội địa hóa ấy lại chính là doanh nghiệp FDI vệ tinh của Hàn Quốc, đi theo Samsung sang Việt Nam, chứ không phải doanh nghiệp Việt. Doanh nghiệp Việt chủ yếu chỉ cung ứng được bao bì, nhựa, cơ khí đơn giản, in ấn, là những công đoạn giá trị thấp nhất trong chuỗi.

Lý do thì không khó hiểu. Samsung khi sang Việt Nam đã kéo theo cả một hệ công nghiệp hỗ trợ Hàn Quốc vốn đã trưởng thành, trong khi doanh nghiệp Việt trước đó chưa từng làm lĩnh vực này nên kinh nghiệm, kỹ năng và giá thành chưa đủ sức cạnh tranh để vào chuỗi. Hệ quả là dòng vốn ngoại đổ vào rất lớn nhưng không tự động nâng được doanh nghiệp nội.

Lãnh đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhìn nhận thắt chặt liên kết giữa khối ngoại và doanh nghiệp trong nước là một trong những việc quan trọng nhất để nâng chất dòng vốn đầu tư. Định hướng chung cũng đã rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng chọn lọc, ưu tiên dự án công nghệ cao và có chuyển giao thực chất, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt tham gia ngày càng sâu vào chuỗi, học hỏi và lớn lên cùng khối ngoại. Đây là hướng đi đôi bên cùng có lợi, vừa giữ được sức hấp dẫn với nhà đầu tư, vừa bồi đắp nội lực trong nước.

Ba hiện tượng tưởng rời rạc là giá trị giữ lại thấp, nhập siêu đảo chiều và phụ thuộc khối ngoại ngày một sâu, thực ra chung một căn nguyên: nội lực doanh nghiệp Việt cần được củng cố và liên kết giữa hai khối cần được thắt chặt hơn. Đây cũng là lúc cần ngẩng lên nhìn ra thế giới, xem những nền kinh tế từng đứng đúng chỗ Việt Nam hôm nay đã thoát ra bằng cách nào.

Bài học quốc tế không phải để sao chép nguyên trạng. Bối cảnh thể chế, quy mô thị trường, vị trí địa lý và thời điểm hội nhập của mỗi nước đều khác. Điều có giá trị là hướng đi và cơ chế: cách một nền kinh tế đang ở vị thế gia công, lắp ráp, lệ thuộc đầu vào nhập khẩu đã từng bước nâng cấp công nghệ, làm sâu công nghiệp hỗ trợ, kéo doanh nghiệp trong nước vào chuỗi và tự thu hẹp nhập siêu từ bên trong. Mỗi nước dưới đây được chọn vì giải đúng một nút thắt mà Việt Nam đang vướng.

Trung Quốc là tấm gương sát sườn nhất với chính bài toán nhập siêu của Việt Nam, vì đây là minh chứng rõ rệt nhất về cách một công xưởng gia công tự co hẹp dòng nhập khẩu nguyên phụ liệu từ bên trong. Phần lớn bùng nổ xuất khẩu của Trung Quốc gắn với việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ở các công đoạn cuối; đến năm 2020, hàng chế tạo đã chiếm hơn 90% tổng giá trị xuất khẩu, theo VoxDev và China Briefing.

Điểm đắt giá nhất nằm ở quỹ đạo hàm lượng nội địa. Hàm lượng giá trị trong nước trong xuất khẩu của Trung Quốc tăng dần khi các doanh nghiệp từng bước thay thế đầu vào nhập khẩu bằng sản phẩm sản xuất trong nước. Nói cách khác, ban đầu Trung Quốc cũng nhập linh kiện về để lắp ráp xuất đi, giống hệt mô hình đang chiếm ưu thế ở Việt Nam, nhưng theo thời gian doanh nghiệp trong nước dần tự làm được linh kiện, và phần nhập khẩu đầu vào co lại. Thị phần của Trung Quốc trong sản xuất tăng ở gần như mọi nhóm của chuỗi cung ứng ô tô suốt một thập niên qua, theo CEPR.

Bài học rút ra cho Việt Nam là hướng đi, tức thay thế đầu vào nhập khẩu bằng sản xuất nội địa và làm chủ linh kiện, chứ không phải liều lượng trợ cấp. Một chương trình nội địa hóa có lộ trình, có trọng tâm cho điện tử, dệt may, da giày, gắn với chuẩn mực hợp lệ của Tổ chức Thương mại Thế giới, sẽ là cách Việt Nam đi theo tinh thần ấy mà tránh được rủi ro pháp lý thương mại.

Hàn Quốc là khuôn mẫu kinh điển của tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Điều đáng học không nằm ở mô hình tập đoàn gia đình chaebol, vốn gắn với bối cảnh riêng và để lại nhiều hệ lụy, mà ở ba thứ rất hợp với chỗ Việt Nam đang đứng.

Thứ nhất, Hàn Quốc dùng xuất khẩu làm kỷ luật phân bổ nguồn lực. Trong thập niên 1960 và 1970, tín dụng lãi suất thấp và ưu đãi thuế chỉ dành cho doanh nghiệp nào xuất khẩu được thực, biến hỗ trợ thành sức ép buộc cả nền kinh tế hướng ra thị trường thế giới. Thứ hai là cường độ nghiên cứu và phát triển rất cao, với top 20 doanh nghiệp chiếm khoảng 57% tổng đầu tư nghiên cứu phát triển công nghiệp của cả nước, theo ITIF năm 2025. Thứ ba, Hàn Quốc luật hóa chính sách thầu phụ và nội địa hóa linh kiện từ rất sớm: một đạo luật xúc tiến ban hành năm 1975 để bảo đảm cung ứng linh kiện cho công nghiệp nặng, và từ năm 1981 cơ quan nhà nước phải ký thỏa thuận mua sắm trước với các hợp tác xã doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo APEC. Đó chính là cơ chế nuôi nhà cung ứng nội địa thay vì để doanh nghiệp lớn nhập hết linh kiện, đúng vào điểm Việt Nam đang yếu.

Đài Loan (Trung Quốc) đi một con đường khác, ít lệ thuộc tập đoàn gia đình hơn, nơi nhà nước đóng vai bà đỡ công nghệ rồi để doanh nghiệp tự lớn. Trước thập niên 1980, xuất khẩu của Đài Loan (Trung Quốc) cũng dựa trên mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành điện tử thâm dụng lao động, một xuất phát điểm không khác Việt Nam hôm nay bao nhiêu. Cú chuyển mình sang bán dẫn giá trị cao gắn liền với một thiết chế công là Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp, gọi tắt là ITRI. Nhà nước giao ITRI dẫn dắt phát triển ngành bán dẫn, nhấn vào sản phẩm thương mại hóa được: ITRI mua công nghệ từ nước ngoài, đào tạo nhân lực, sản xuất thử, rồi tách ra hai doanh nghiệp đầu đàn là TSMC và UMC trong thập niên 1980, theo Asterisk Magazine và Harvard Business School.

Cách làm này khác hẳn trợ cấp dàn trải: nhà nước gánh phần rủi ro nghiên cứu và thử nghiệm ban đầu, đoạn khó nhất và đắt nhất, rồi chuyển giao thành công cho doanh nghiệp khai thác thương mại. Với Việt Nam, nơi lực lượng kỹ sư và chuyên gia người Việt ở nước ngoài không nhỏ, mô hình ITRI gắn với cụm công nghệ cao và chính sách thu hút nhân tài hồi hương là điều hoàn toàn có thể vận dụng. Bài học kép ở đây là vừa cần một thiết chế kiểu ITRI làm bà đỡ công nghệ cho doanh nghiệp nội, vừa không nên dồn toàn bộ kỳ vọng vào một ngành mũi nhọn duy nhất.

Thái Lan trả lời trực diện nhất cho nghịch lý khối ngoại áp đảo của Việt Nam, vì đây là bằng chứng rằng vốn ngoại không xấu, vấn đề nằm ở thiết kế chính sách để vốn ngoại kéo theo nhà cung ứng trong nước. Được gọi là Detroit của châu Á, Thái Lan là nhà sản xuất và xuất khẩu ô tô lớn nhất Đông Nam Á; năm 2024 sản xuất khoảng 1,47 triệu xe và xuất khẩu khoảng 1,02 triệu xe.

Cách Thái Lan thu hút vốn ngoại không có gì xa lạ với Việt Nam: miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu, cho sở hữu 100% vốn nước ngoài. Điểm khác biệt nằm ở bước tiếp theo. Thái Lan từng dùng yêu cầu hàm lượng nội địa để buộc khối ngoại "nuôi" nhà cung ứng trong nước. Quy định này về sau bị bãi bỏ theo luật của Tổ chức Thương mại Thế giới, nhưng đã kịp tạo nền nhà cung ứng nội địa mà không làm nhà đầu tư nước ngoài rút lui. Kết quả là hiện hơn 80% phụ tùng dùng để lắp ráp xe được mua ngay trong nước. Sau khi công cụ hàm lượng nội địa không còn được phép, Thái Lan nâng cấp bằng phát triển theo cụm, tụ chiều sâu chuỗi cung ứng và mật độ doanh nghiệp phụ trợ quanh Bangkok và Hành lang Kinh tế phía Đông.

Mexico bổ sung một cách khác cũng rất thời sự. Năm 2024, Mexico vươn lên thành nguồn nhập khẩu số một của Hoa Kỳ với 466,6 tỷ USD. Đòn bẩy then chốt là quy tắc xuất xứ chặt trong hiệp định khu vực: Hiệp định Hoa Kỳ, Mexico và Canada nâng quy tắc xuất xứ ô tô từ 62,5% lên 75%, buộc các hãng xe nội địa hóa linh kiện trong khối Bắc Mỹ, qua đó kéo chuỗi cung ứng về Mexico, theo Brookings. Một rào cản kỹ thuật đã được biến thành lực kéo đầu tư và nội địa hóa.

Nhật Bản đóng góp một lời giải tổ chức cho đúng điểm yếu của Việt Nam, khi doanh nghiệp nội phần lớn nhỏ, thiếu vốn, thiếu mạng lưới và năng lực thị trường quốc tế. Đó là mô hình tổng hợp thương xã, gọi theo tiếng Nhật là sogo shosha, những công ty thương mại tổng hợp kinh doanh đa ngành cực rộng.

Chức năng đáng học nhất của các tổng hợp thương xã là gánh hộ doanh nghiệp nhỏ toàn bộ phần việc mà tự họ không làm nổi. Họ cấp tín dụng khối lượng lớn, giúp nhà sản xuất nhỏ mua bán hàng trên thị trường thế giới, làm logistics, cung cấp thông tin thị trường, quản trị rủi ro và thu xếp tài chính, theo UNCTAD và Reference for Business. Nhờ đó doanh nghiệp nhỏ chỉ cần tập trung vào việc sản xuất, còn xúc tiến, tín dụng thương mại và logistics đã có thiết chế trung gian lo. Sức mạnh tổ chức của mô hình này từng rất lớn, dù những con số tầm vóc của hai thập niên trước chỉ nên dùng để minh họa chứ không trích như số liệu hiện hành.

Ấn Độ cung cấp công cụ chính sách hiện đại và hợp chuẩn thương mại quốc tế bậc nhất trong nhóm châu Á, lại đánh trúng cả hai bài toán của Việt Nam là đẩy xuất khẩu và giảm nhập khẩu cùng một lúc. Đó là chương trình Ưu đãi gắn sản lượng, triển khai từ năm 2020, tổng quy mô khoảng 1,97 lakh crore rupee cho 14 ngành. Đặc trưng của nó là chỉ thưởng theo thành tích sản xuất và xuất khẩu tăng thêm, nghĩa là tiền hỗ trợ chỉ chi khi doanh nghiệp thực sự làm ra và bán được hàng, khác hẳn trợ cấp truyền thống vốn chi trước và khó kiểm soát hiệu quả.

Kết quả thì rất thuyết phục. Trong ngành điện tử, sản xuất điện thoại thông minh đưa Ấn Độ thành nước sản xuất lớn thứ hai thế giới; nhập khẩu điện thoại giảm gần 77% so với năm tài khóa 2020 đến 2021, và trên 99% nhu cầu trong nước được đáp ứng bằng sản xuất nội địa, theo cơ quan thông tin báo chí Chính phủ Ấn Độ. Ngành dược chuyển từ nhập ròng nguyên liệu thuốc sang xuất siêu nguyên liệu thuốc chỉ trong vài năm. Một công cụ duy nhất vừa kéo xuất khẩu lên, vừa thay thế nhập khẩu, đúng hai việc Việt Nam đang cần.

Đức là lời giải mẫu mực cho điểm yếu lớn nhất của Việt Nam: thiếu một tầng doanh nghiệp nội địa đủ mạnh để dẫn dắt xuất khẩu. Là nước xuất khẩu hàng hóa lớn thứ ba thế giới, với khoảng 1.660 tỷ USD hàng hóa và dịch vụ năm 2024, nhưng trụ cột xuất khẩu của Đức không phải vài tập đoàn khổng lồ, mà là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ gọi là Mittelstand. Khối này chiếm khoảng 99,6% số doanh nghiệp Đức, đóng hơn một nửa sản lượng kinh tế và gần 60% việc làm, theo Bộ Kinh tế Đức.

Trái tim của mô hình là khái niệm nhà vô địch ẩn danh. Khoảng 1.600 doanh nghiệp vừa của Đức dẫn đầu thị trường thế giới trong một ngách hẹp, thuộc nhóm ba doanh nghiệp hàng đầu toàn cầu hoặc số một châu lục, với doanh thu dưới 5 tỷ Euro mỗi năm, và đóng góp khoảng 25% tổng xuất khẩu của Đức. Đây chính xác là tầng doanh nghiệp mà Việt Nam còn thiếu: không phải vài tập đoàn lớn, cũng không phải hàng triệu hộ kinh doanh manh mún, mà là một lớp dày các doanh nghiệp vừa chuyên sâu, dẫn đầu một ngách toàn cầu.

Vì sao họ mạnh và bền có thể đúc thành ba điểm. Chuyên sâu theo ngách cộng với đầu tư công nghệ, khi hơn 42% doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đức đưa ra thị trường một sản phẩm hoặc quy trình đổi mới, cao hơn mức bình quân khoảng 30% của Liên minh châu Âu. Đào tạo nghề kép, khi khoảng 82% người học nghề được đào tạo ngay trong doanh nghiệp, tạo lực lượng kỹ thuật lành nghề gắn với nhu cầu thực. Và thương hiệu quốc gia, khi chính lớp doanh nghiệp vừa dẫn đầu ngách làm nên uy tín nhãn Made in Germany.

Trong tất cả các nước được soi, Ireland là tấm gương khi mô hình xuất khẩu do vốn đầu tư nước ngoài dẫn dắt của Ireland gần như trùng khít với điểm yếu mà Việt Nam phải tránh kéo dài. Ireland là nước xuất khẩu dược lớn thứ ba thế giới, với xuất khẩu dược khoảng 100 tỷ euro năm 2024, chiếm tới khoảng 45% tổng xuất khẩu hàng hóa.

Mặt sáng của mô hình là thật. Ireland quy tụ 19 trên 20 hãng dược lớn nhất và 18 trên 20 hãng thiết bị y tế hàng đầu thế giới, nhờ thuế ưu đãi, môi trường tuân thủ tốt, lao động nói tiếng Anh có kỹ năng. Riêng ngành dược nộp 4,1 tỷ euro thuế doanh nghiệp năm 2024, tương đương khoảng 15% tổng thu thuế doanh nghiệp của cả nước.

Nhưng mặt tối mới là bài học cốt lõi. Khi 45% xuất khẩu hàng hóa dồn vào một ngành duy nhất và phụ thuộc vào khối ngoại, chỉ một thay đổi thuế quan đã đặt khoảng 44 tỷ euro xuất khẩu vào rủi ro, theo Irish Examiner năm 2025. Phụ thuộc vốn ngoại cho con số xuất khẩu rất đẹp nhưng chưa thật vững trước cú sốc bên ngoài và còn ít lan tỏa sang doanh nghiệp nội. Khi tập đoàn đa quốc gia dịch chuyển vì chính sách thuế thay đổi, phần giá trị gắn với họ có thể ra đi gần như tức thì, để lại khoảng trống mà doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức lấp.

Đặt cạnh Việt Nam, nơi khối ngoại chiếm 79,5% xuất khẩu lời cảnh báo từ Ireland là trực diện. Không nên hài lòng với con số xuất khẩu đẹp do khối ngoại tạo ra, mà phải dùng vốn ngoại làm đòn bẩy chuyển giao công nghệ và kéo doanh nghiệp nội vào chuỗi, không để khối này thành một ốc đảo tách rời nền kinh tế trong nước.

Nhìn ra thế giới rồi quay về trong nước, một câu hỏi đặt ra: Việt Nam đã có đủ khung thể chế để đưa xuất khẩu lên quỹ đạo hai con số bền vững chưa, hay vướng nằm ở khâu thực thi? Câu trả lời nghiêng hẳn về vế sau. Bài toán hôm nay không phải thiếu chủ trương, mà là độ vênh giữa chủ trương với chỉ tiêu giao cho bộ máy, và là khoảng cách giữa văn bản với thực thi.

Phát biểu kết luận Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số do Bộ Công Thương tổ chức ngày 25/6, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh, trước đây chúng ta thường nói thể chế là "điểm nghẽn". Đến nay, Đảng đã xác định hoàn thiện thể chế là một trong ba đột phá chiến lược. Vì vậy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác xây dựng thể chế nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng các cam kết quốc tế, các yêu cầu thực tiễn phát triển của doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Tại kỳ họp vừa qua, Chính phủ đã trình Quốc hội khoảng 20 dự án luật và nhiều nghị quyết nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. Trong đó có nhiều luật liên quan trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp như Luật Quản lý ngoại thương, các quy định về công nghiệp, xây dựng, tài chính và nhiều lĩnh vực khác. Điều đó cho thấy chúng ta rất coi trọng công tác xây dựng thể chế để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng tại sự kiện trên cũng nêu rõ, đến nay Bộ Công Thương đã thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, cắt giảm 367 trên tổng số 658 điều kiện kinh doanh, tương đương trên 55,7%; bãi bỏ 111 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 177 thủ tục hành chính. Đây là nỗ lực của Bộ Công Thương nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ trưởng cũng khẳng định Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, ổn định nguồn cung xăng dầu, điện năng và tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, logistics, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững trong thời gian tới.

Như vậy, khung thể chế là rõ ràng, quyết tâm chính trị là rõ ràng và sự nỗ lực của các Bộ ngành cũng là rất lớn.

Song song với đó, nếu có một lợi thế thể chế Việt Nam đang sở hữu vượt trội so với phần lớn các nền kinh tế cùng trình độ, thì đó là mạng lưới hiệp định thương mại tự do. Hiện, Việt Nam có 17 hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực và 2 hiệp định đang đàm phán, theo tổng hợp của Trung tâm WTO thuộc VCCI. Mạng lưới này phủ gần như toàn bộ các thị trường lớn của thế giới, trong đó bốn hiệp định thế hệ mới gồm CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP mở cửa hơn 99% dòng thuế về 0% theo lộ trình. Hiệp định mới nhất, CEPA giữa Việt Nam và UAE có hiệu lực ngày 3/2/2026, là hiệp định thương mại tự do đầu tiên Việt Nam ký với một nước Ả-rập, mở cánh cửa vào Trung Đông và xa hơn là châu Phi.

Nhưng lợi thế trên giấy chưa chuyển hết thành kim ngạch thực, vì tỷ lệ tận dụng ưu đãi còn thấp. Mức tận dụng ưu đãi qua giấy chứng nhận xuất xứ trong khuôn khổ EVFTA mới đạt khoảng 35,1%, nghĩa là gần 2/3 kim ngạch xuất khẩu sang EU vẫn chưa khai thác hết phần ưu đãi thuế quan mà hiệp định mang lại. Nguyên nhân cốt lõi là năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ của doanh nghiệp, đặc biệt là khối nội địa, còn yếu, do phụ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu và thiếu chuỗi cung ứng nội. Đây chính là chỗ thể chế tốt gặp giới hạn của nội lực: muốn biến 17 hiệp định thành động lực hai con số, phải đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa và đơn giản hóa thủ tục chứng nhận xuất xứ.

Phải ghi nhận rằng khâu thực thi nửa đầu 2026 đã có chuyển động cụ thể. Ngành Công Thương đã cắt giảm 367/658 điều kiện kinh doanh, tương đương 55,7%, đồng thời bãi bỏ 111 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 177 thủ tục, đúng tinh thần cắt giảm tối thiểu 30% mà Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 198/2025/QH15 đặt ra. Đây là tín hiệu tích cực cho môi trường xuất nhập khẩu, dù mức độ thẩm thấu tới từng doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục theo dõi.

Khép lại hành trình từ câu hỏi về phần giá trị giữ lại trong nước, qua hai khối doanh nghiệp vận hành song song, đến tấm bản đồ lời giải của thế giới và khung thể chế trong nước, có thể chốt lại bằng một câu duy nhất. Việt Nam bán rất giỏi, cái yếu nằm ở khâu làm ra cái để bán. Gốc của chuyện bán nhiều mà giữ lại ít không phải ở thị trường, không phải ở khả năng giành đơn hàng, mà ở nội lực doanh nghiệp Việt cần được củng cố và ở sợi dây liên kết giữa khối ngoại với khối nội cần được thắt chặt hơn.

Thế giới đã chỉ ra đường đi. Trung Quốc cho thấy cơ chế nội địa hóa để tự thu hẹp nhập siêu từ bên trong. Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) chỉ ra trục nâng cấp công nghệ. Thái Lan và Mexico chỉ ra cách buộc vốn ngoại kéo doanh nghiệp nội vào chuỗi. Nhật Bản và Đức chỉ ra cách dựng nội lực và thiết chế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ấn Độ chỉ ra công cụ ưu đãi hiện đại, hợp chuẩn quốc tế. Còn Ireland đứng đó như một lời nhắc rằng con số đẹp do vốn ngoại tạo ra mà thiếu nội lực thì chưa thật vững. Tất cả hội tụ về một thông điệp: phải biến vốn ngoại và gia công thành bệ phóng để nâng cấp doanh nghiệp nội và làm sâu công nghiệp hỗ trợ. Tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cũng là một trong những nhiệm vụ Phó Thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc giao cho Bộ Công Thương tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số do Bộ Công Thương tổ chức ngày 25/6.

Nhưng chẩn đúng bệnh mới là một nửa. Nửa còn lại là kê đúng đơn, trong một bối cảnh không hề thuận lợi. Thuế quan từ Hoa Kỳ, giá dầu từ Trung Đông, hàng rào xanh từ châu Âu đang dồn tới cùng một lúc, đặt lên vai xuất khẩu Việt Nam những cơn gió ngược thật sự. Làm thế nào để vừa chống đỡ những cơn gió ngược ấy, vừa khởi động một chương trình nội lực bền bỉ đủ sức biến tăng trưởng cao nhất thời thành tăng trưởng hai con số dài lâu, đó là câu chuyện của kỳ cuối: rủi ro và lời giải?

Lâm Vỹ Sơn, Bảo Ngọc, Hương Giang