Đóng

Luật phải bảo đảm doanh nghiệp nhỏ tiếp cận thực chất vốn và thị trường

Đại biểu đề nghị luật quy định rõ chuyển tiếp khi sắp xếp quỹ hỗ trợ vốn, tính tỷ lệ 20% gói thầu công bằng giá trị doanh nghiệp nhỏ thực được làm, được thanh toán.

Chiều 29/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở Hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đại biểu Nguyễn Văn Thân (đoàn TP. Hồ Chí Minh) và đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn thành phố Hải Phòng) cùng góp ý vào chính sách vốn, thuế, mua sắm công, đề nghị làm rõ các bảo đảm ngay trong luật trước khi thông qua.

Rõ cơ chế vốn, thuế, thầu

Phát biểu thay mặt cộng đồng hơn 1 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa, hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đại biểu Nguyễn Văn Thân đánh giá dự án Luật đã được chuẩn bị công phu, bài bản, tham vấn ý kiến rộng rãi cộng đồng doanh nghiệp.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân, đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh.

Về tiếp cận vốn, đại biểu ghi nhận Điều 8, Chương II đã đề cập chính sách cấp tín dụng dựa trên phương án kinh doanh, doanh thu, dòng tiền, dữ liệu giao dịch, đa dạng hóa tài sản đảm bảo, phương pháp cho vay, đây là hướng tiếp cận đúng. Song, nội dung Điều 8 chủ yếu mang tính nguyên tắc, định hướng khuyến khích; nếu không có quy định chi tiết về cơ chế triển khai, trách nhiệm của tổ chức tín dụng, tiêu chí đánh giá, phương thức tiếp cận thì doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận.

Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 8 quy định giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết, trong đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì tham mưu, tổ chức thực hiện các nội dung về tín dụng, thông tin tín dụng, các mô hình tài chính thuộc thẩm quyền. Có như vậy, chủ trương mở rộng tín dụng mới trở thành cơ chế thực thi rõ ràng, có căn cứ để triển khai và giám sát.

Về thuế, kế toán nêu tại Điều 9, đại biểu đồng tình miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập, nhưng đề nghị chính sách sát thực tế hơn; sửa khoản 2 Điều 9 theo hướng miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi có lợi nhuận, nhưng không quá 5 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Đại biểu đồng tình xác định ngưỡng doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm được áp dụng phương pháp tính thuế tối giản ngay trong luật tại khoản 3 Điều 9, ủng hộ giao Chính phủ điều chỉnh ngưỡng phù hợp từng thời kỳ, nhưng đề nghị luật ghi rõ chỉ điều chỉnh tăng, không thấp hơn 10 tỷ đồng/năm.

Về ưu tiên trong mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước và phát triển thi trường nêu tại Điều 12, đại biểu rất ủng hộ quy định dành tối thiểu 20% tổng giá trị các gói thầu sử dụng ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia, cùng cơ chế dành các gói thầu không quá 20 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. "Nhưng phải làm sao để tỷ lệ 20% này không chỉ là con số tổng hợp trên báo cáo, mà phải là giá trị công việc thực tế doanh nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện và được thanh toán", đại biểu nói.

Theo đó, với gói thầu lớn do doanh nghiệp lớn trúng thầu, cần quy định nhà thầu chính giao cho nhà thầu phụ là doanh nghiệp nhỏ và vừa phần công việc phù hợp, tổng giá trị thanh toán cho các nhà thầu phụ tối thiểu bằng 20% giá trị hợp đồng ký với chủ đầu tư. Đơn giá thanh toán cho nhà thầu phụ với cùng nội dung, khối lượng công việc phải tương ứng đơn giá chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu chính, không để doanh nghiệp nhỏ bị ép giá qua các tầng trung gian hoặc chậm thanh toán. Nhà thầu chính phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho nhà thầu phụ ngay khi được chủ đầu tư thanh toán. Có việc làm mà bị chiếm dụng vốn kéo dài thì chính sách ưu tiên chưa đạt mục tiêu.

Đại biểu đề nghị giữ tỷ lệ tối thiểu 20% tại dự thảo Luật, đồng thời nghiên cứu bổ sung đồng bộ các nội dung này vào dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi), làm rõ hồ sơ mời thầu, hợp đồng, cơ chế kiểm tra thực hiện, bảo đảm phù hợp với tinh thần từng gói thầu và khả năng thực hiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Rõ chuyển tiếp quỹ, chỉ tiêu mua sắm

Nghiên cứu Báo cáo số 879 của Bộ Tài chính giải trình ý kiến thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga tập trung hai vấn đề cần làm rõ trước khi thông qua.

Thứ nhất, hoàn thiện Điều 35 để bảo đảm căn cứ pháp lý cho hoạt động chuyển tiếp, cơ chế hỗ trợ vốn khi sắp xếp lại các quỹ. Đại biểu nhất trí rà soát, sắp xếp Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương vốn hoạt động còn hạn chế. Tuy nhiên, báo cáo cũng xác nhận khoản 2 Điều 35 mới quy định thẩm quyền, thời hạn đánh giá, rà soát, sắp xếp; nội dung kế thừa quyền, nghĩa vụ sẽ tiếp tục được nghiên cứu.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng.

Theo đại biểu, trước khi thông qua cần làm rõ ba vấn đề. Một là, căn cứ nào bảo đảm hoạt động của quỹ trong thời gian chờ sắp xếp. Theo hướng chỉnh lý, Điều 33 sẽ bãi bỏ khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 198/2025/QH15 về chức năng của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi việc sắp xếp quỹ có thể kéo dài tối đa một năm sau khi Luật có hiệu lực. Đại biểu đề nghị rà soát đồng bộ hai thời điểm này, quy định rõ căn cứ hoạt động, trách nhiệm quản lý trong giai đoạn chuyển tiếp ngay trong luật.

Hai là, xử lý cam kết cũ và giải quyết nhu cầu hỗ trợ trong thời gian chuyển tiếp là hai nhiệm vụ cần phân định. Tiếp tục hợp đồng vay, bảo lãnh đang có hiệu lực mới giải quyết phần nghĩa vụ đã phát sinh; còn hồ sơ đang xét, hồ sơ cần bổ sung hay nhu cầu phát sinh trong thời gian sắp xếp sẽ do cơ quan nào tiếp nhận, theo cơ chế nào. Nếu chưa xác định, quá trình chuyển tiếp có thể làm gián đoạn việc tiếp cận chính sách.

Ba là, làm rõ cơ chế thực hiện những nhiệm vụ hỗ trợ vốn còn cần thiết sau sắp xếp, bởi "việc giải thể một tổ chức không tự giải quyết được khó khăn về tài sản bảo đảm, về khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp". Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 35 nguyên tắc: việc sáp nhập, giải thể gắn với phương án chuyển tiếp được phê duyệt; xác định đầy đủ chủ thể tiếp nhận vốn, tài sản, công nợ, hợp đồng, hồ sơ, nhiệm vụ; quy định rõ trách nhiệm, thời điểm chuyển giao; bảo đảm tiếp tục các cam kết hợp pháp. Quy trình thủ tục thì giao Chính phủ quy định chi tiết.

Thứ hai, Điều 12 cần làm rõ cách tính chỉ tiêu mua sắm công và trách nhiệm khi áp dụng ngoại lệ. Dự thảo đã bổ sung hướng xử lý trường hợp không đủ gói thầu dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, xem xét trách nhiệm theo quá trình thực hiện; đại biểu đồng tình, nhưng nếu ngoại lệ và căn cứ đánh giá trách nhiệm chưa rõ thì tỷ lệ tối thiểu khó được kiểm chứng trong thực tế.

Đại biểu đề nghị chỉnh lý theo ba hướng. Trước hết, thống nhất cách tính theo giá trị mua sắm như dự thảo Luật; trước đây dự thảo nghị định cho phép chọn giữa tỷ lệ giá trị và tỷ lệ số gói thầu, hai cách tính khác nhau về bản chất, dành nhiều gói thầu có giá trị rất nhỏ chưa phản ánh đúng cơ hội thị trường mà chính sách muốn tạo ra.

Tiếp theo, theo dõi riêng hai chỉ tiêu: Giá trị gói thầu dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia, giá trị hợp đồng doanh nghiệp thực tế được trao; chỉ tiêu thứ nhất để kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ, chỉ tiêu thứ hai phản ánh kết quả chính sách. Cuối cùng, trường hợp không đáp ứng tỷ lệ phải có căn cứ giải trình, kiểm tra được, cơ cấu mua sắm, lý do không đủ gói thầu phù hợp, những biện pháp ưu tiên đã thực hiện; việc công khai, kiểm chứng nên khai thác hồ sơ, dữ liệu đấu thầu sẵn có. Hai nội dung trên liên quan trực tiếp tới khả năng doanh nghiệp tiếp cận vốn và tiếp cận thị trường.

Chiều 29/10, sau khi thảo luận ở hội trường về Luật phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn sẽ phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Văn Hoàng