Đóng

Minh bạch chuỗi cung ứng để giữ đà tăng trưởng xuất khẩu gỗ

Thương mại gỗ toàn cầu thay đổi, buộc doanh nghiệp Việt Nam phải tăng cường truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn bền vững nhằm giữ đà tăng trưởng xuất khẩu.

Thương mại gỗ tăng trưởng nhưng áp lực thị trường ngày càng lớn

Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những trung tâm chế biến, xuất khẩu gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng về quy mô thương mại là những yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu, đặc biệt liên quan đến tính hợp pháp của nguồn gỗ, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, truy xuất nguồn gốc không còn là một lựa chọn mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để ngành gỗ duy trì vị thế trên thị trường quốc tế.

Truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững đang trở thành điều kiện tiên quyết để ngành gỗ Việt Nam duy trì tăng trưởng xuất khẩu trước yêu cầu thị trường. Ảnh minh họa

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách, Tài chính và Thương mại lâm nghiệp, Tổ chức Forest Trends cho hay, ngành gỗ Việt Nam hiện được hình thành từ hai nguồn nguyên liệu chính là gỗ nhập khẩu và gỗ sản xuất trong nước. Mỗi năm, Việt Nam nhập khoảng 5-6 triệu m³ gỗ tròn và gỗ xẻ nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến xuất khẩu cũng như yêu cầu về chủng loại gỗ của các thị trường. Trong đó, khoảng 70% nguồn gỗ được nhập từ các quốc gia có hệ thống quản trị rừng phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Liên minh châu Âu, Australia và New Zealand; phần còn lại đến từ một số nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông và châu Phi.

Ở chiều ngược lại, nguồn nguyên liệu trong nước chủ yếu đến từ gỗ rừng trồng, gỗ cao su và cây phân tán. Chính sách không khai thác gỗ rừng tự nhiên giúp toàn bộ nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất hướng tới tính hợp pháp và bền vững hơn. Nguồn nguyên liệu này tạo ra nhiều nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực như đồ nội thất, gỗ dán, dăm gỗ, viên nén...

Theo ông Tô Xuân Phúc, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam duy trì xu hướng tăng trong nhiều năm, bất chấp giai đoạn chịu tác động của đại dịch Covid-19 và biến động thương mại toàn cầu. Hiện, Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam, tiếp theo là Nhật Bản, Trung Quốc, Liên minh châu Âu và Hàn Quốc. Mỗi thị trường lại có yêu cầu khác nhau về chủng loại sản phẩm và nguồn nguyên liệu. Theo ông Tô Xuân Phúc, nếu như Hoa Kỳ tập trung vào các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như đồ nội thất, ghế gỗ thì Trung Quốc chủ yếu nhập khẩu dăm gỗ; Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung vào viên nén, dăm gỗ và các sản phẩm gỗ công nghiệp. Điều này cho thấy chuỗi cung ứng gỗ của Việt Nam ngày càng gắn chặt với các yêu cầu riêng của từng thị trường.

Bên cạnh cơ hội mở rộng thương mại là sức ép ngày càng lớn từ các quy định mới. Hiệp định VPA/FLEGT với Liên minh châu Âu, Quy định chống mất rừng của EU (EUDR), thỏa thuận về gỗ hợp pháp với Hoa Kỳ hay lộ trình chống mất rừng của Vương quốc Anh đều có điểm chung là yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của nguyên liệu. Đặc biệt, EUDR yêu cầu truy xuất tới từng lô đất khai thác, xác định đầy đủ vị trí địa lý, chủ sở hữu và toàn bộ thông tin liên quan đến nguồn nguyên liệu. Theo ông Phúc, đây là bước thay đổi căn bản trong cách thức quản trị chuỗi cung ứng của ngành gỗ.

ASEAN cần liên kết để xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch

Một điểm đáng chú ý được ông Tô Xuân Phúc chỉ ra là quy mô thương mại gỗ nội khối ASEAN hiện vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang ASEAN chỉ đạt chưa đến 600 triệu USD, trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt gần 17 tỷ USD. Indonesia là thị trường lớn nhất của Việt Nam trong khu vực, tiếp theo là Thái Lan, Singapore và Campuchia. Ở chiều nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu mua gỗ tròn, gỗ xẻ từ Lào; gỗ cao su từ Thái Lan; cùng các sản phẩm gỗ công nghiệp từ Malaysia và Indonesia.

Theo ông Phúc, thách thức nằm ở chỗ nhiều quốc gia ASEAN hiện vẫn chưa xây dựng đầy đủ hệ thống truy xuất nguồn gốc và xác minh tính hợp pháp của gỗ ở cấp quốc gia. Điều này có thể trở thành rào cản lớn đối với thương mại khu vực trong thời gian tới. “Việt Nam đang có nhu cầu lớn đối với nguồn gỗ cao su từ Campuchia và Lào. Tuy nhiên, nếu các quốc gia này chưa thiết lập được hệ thống truy xuất nguồn gốc thì nguyên liệu sẽ gặp khó khăn khi tham gia chuỗi sản xuất phục vụ xuất khẩu sang các thị trường lớn”, ông Phúc dẫn chứng và cho rằng, việc xây dựng và tiến tới công nhận lẫn nhau các hệ thống truy xuất nguồn gốc trong ASEAN sẽ không chỉ tạo thuận lợi cho thương mại nội khối mà còn giúp toàn khu vực đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế đang ngày càng khắt khe.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA), nhận định ASEAN đang giữ vị trí quan trọng trên bản đồ ngành gỗ và nội thất thế giới. Tuy nhiên, lợi thế về năng lực sản xuất sẽ không còn đủ nếu doanh nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu về tính hợp pháp của nguồn gỗ, truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ rừng và trách nhiệm môi trường - xã hội. "Phát triển bền vững không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp ASEAN tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây cũng là cơ hội để nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và xây dựng hình ảnh chung của ngành gỗ ASEAN trên thị trường quốc tế", ông Phùng Quốc Mẫn nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia trong ngành, cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam trong giai đoạn mới không còn chỉ nằm ở giá thành hay năng lực sản xuất. Khả năng chứng minh tính hợp pháp của nguyên liệu, minh bạch chuỗi cung ứng và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững đang trở thành "giấy thông hành" mới của thương mại gỗ. Trong bối cảnh các quy định quốc tế tiếp tục được siết chặt, việc ASEAN tăng cường liên kết, hài hòa hệ thống truy xuất nguồn gốc và nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng sẽ là yếu tố quyết định để khu vực duy trì vị thế trong thương mại gỗ toàn cầu.

Ông Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách, tài chính và thương mại lâm nghiệp, Tổ chức Forest Trends cho hay: Chính phủ Anh cũng đã công bố lộ trình xây dựng quy định chống mất rừng và dự kiến áp dụng từ năm 2027. Các doanh nghiệp nhập khẩu có doanh thu từ 1 triệu bảng Anh trở lên sẽ phải thực hiện đầy đủ yêu cầu về truy xuất nguồn gốc. Đây là xu hướng mà các doanh nghiệp không thể đứng ngoài.

Nguyễn Hạnh