Tại Hội thảo "Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới" do Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức ngày 15/6/2026, với 36 tham luận và sự chỉ đạo của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, một con số được nhắc đi nhắc lại: trữ lượng đất hiếm của Việt Nam khoảng 22 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Đất hiếm, nhóm khoáng vật mà thế giới gọi là vitamin của công nghiệp hiện đại, lần đầu được đặt lên bàn nghị sự ở tầm một diễn đàn cấp Quốc hội như một câu chuyện tài nguyên chiến lược.
Nhưng cũng chính tại đây, một sự thật khác lộ ra, đối nghịch với niềm tự hào về trữ lượng. Sản lượng khai thác đất hiếm thực tế của Việt Nam chỉ khoảng 600 tấn mỗi năm. Đến nay, theo tham luận của Hội Khoa học Kỹ thuật Đúc - Luyện kim Việt Nam, nước ta chưa có một cơ sở công nghiệp nào đang hoạt động đủ khả năng tinh chế quặng thành oxit đất hiếm độ tinh khiết cao từ 95% trở lên, mức cần thiết cho xuất khẩu và cho công nghệ cao trong nước.
Một bên là kho tài nguyên hàng đầu thế giới trên giấy tờ địa chất. Một bên là nhà máy gần như chưa có. Khoảng cách giữa hai con số ấy chính là điều bài viết này muốn mổ xẻ: vì sao Việt Nam giàu tài nguyên chiến lược trên giấy mà nghèo ở nhà máy và vì sao chính một con số trữ lượng đang gây tranh cãi lại là "chìa khóa" của câu chuyện tự chủ.
Hãy bắt đầu bằng đúng con số đã mở ra hội thảo. Hội Khoa học Kỹ thuật Đúc - Luyện kim Việt Nam khẳng định trữ lượng đất hiếm Việt Nam khoảng 22 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới sau Trung Quốc. Con số này được trích dẫn rộng rãi trong nước nhiều năm nay, xuất hiện trên hầu khắp mặt báo mỗi khi nhắc tới tiềm năng đất hiếm, gần như đã trở thành một mệnh đề mặc định.
Nhưng đặt cạnh nguồn quốc tế, bức tranh phức tạp hơn. Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), trong ấn phẩm thường niên Mineral Commodity Summaries 2025, đã hạ ước tính trữ lượng đất hiếm của Việt Nam xuống còn 3,5 triệu tấn, đưa Việt Nam từ vị trí thứ hai xuống thứ sáu thế giới. Khoảng chênh giữa 22 triệu tấn và 3,5 triệu tấn không phải là một sai số nhỏ; nó là chênh lệch hơn sáu lần, đủ để thay đổi cả vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài nguyên toàn cầu.
Báo Công Thương không chọn một con số làm chân lý và bác bỏ con số kia. Cách làm báo dữ liệu nghiêm cẩn đòi hỏi đặt cả hai con số cạnh nhau, ghi rõ nguồn, và truy nguyên vì sao chúng khác nhau. Điều đáng nói là ngay trong giới chuyên môn Việt Nam, các con số cũng không trùng khít. Tại chính hội thảo ngày 15/6, trong khi Hội Khoa học Kỹ thuật Đúc - Luyện kim Việt Nam dùng con số 22 triệu tấn, tham luận của Trường Đại học Mỏ - Địa chất, đơn vị địa chất chuyên ngành, lại đưa con số hơn 17 triệu tấn tổng oxit đất hiếm, chủ yếu tập trung ở Lai Châu, kèm bóc tách theo từng mỏ. Ba con số, ba nguồn, cùng một đối tượng.
Vì sao một mỏ khoáng sản lại có thể được ước tính lệch nhau nhiều đến vậy? Câu trả lời nằm ở bản chất khái niệm trữ lượng. Số liệu địa chất phụ thuộc vào phương pháp thăm dò, mật độ khoan, vào việc tính theo trữ lượng đã thăm dò chắc chắn hay gộp cả tài nguyên dự báo và vào hàm lượng oxit đất hiếm tối thiểu lấy làm ngưỡng.
Quặng thô của Việt Nam có hàm lượng oxit đất hiếm chỉ 1 đến 5%, theo Đại học Bách khoa Hà Nội, nên cùng một thân quặng, hạ ngưỡng thì trữ lượng tăng vọt, nâng ngưỡng thì trữ lượng co lại. USGS thận trọng với số liệu chưa thăm dò đầy đủ theo chuẩn quốc tế; các nguồn trong nước có xu hướng gộp cả tài nguyên dự báo. Không bên nào hẳn bịa đặt; vấn đề là chuẩn đo và ngưỡng tính khác nhau.
Đây không phải chuyện "chẻ sợi tóc làm tư" của giới học thuật. Trong một thế giới mà đất hiếm đã thành quân bài địa chính trị, con số trữ lượng là điểm khởi đầu của mọi cuộc định giá và đàm phán. Khi một quốc gia ngồi vào bàn thương lượng về hợp tác khai thác, chế biến hay bao tiêu, con số trữ lượng mang theo quyết định vị thế của họ.
Nếu công bố 22 triệu tấn nhưng thực tế thăm dò chắc chắn thấp hơn nhiều, phía đối tác sẽ sớm phát hiện, và sự chênh lệch đó làm xói mòn lòng tin, làm yếu thế đàm phán. Ngược lại, một con số được thăm dò bài bản, kiểm chứng độc lập và công bố minh bạch mới là tài sản đàm phán thực sự. Minh bạch số liệu, vì thế, không phải sự khiêm tốn, mà là một dạng sức mạnh.
Cuộc tranh luận về con số tổng không xóa đi một thực tế: Việt Nam có tài nguyên đất hiếm thật và phần lớn nằm ở Tây Bắc. Tham luận của Trường Đại học Mỏ - Địa chất tại hội thảo cho bức tranh chi tiết nhất từ trước tới nay về phân bố theo từng mỏ.
Lớn nhất là mỏ Nậm Xe Bắc ở Phong Thổ, Lai Châu, với trữ lượng và tài nguyên khoảng 7,7 triệu tấn, chiếm khoảng 45 phần trăm tổng của cả nước, là mỏ đất hiếm lớn nhất Việt Nam. Tiếp đến là mỏ Đông Pao ở Tam Đường, Lai Châu, khoảng 4,4 triệu tấn, chiếm 25,9 phần trăm, một mỏ đa kim loại với diện tích khoảng 12 ki lô mét vuông và 60 thân quặng nhưng được mô tả là rất khó chế biến. Thứ ba là mỏ Nậm Xe Nam, cũng ở Phong Thổ, khoảng 4,1 triệu tấn, chiếm 23,9 phần trăm. Riêng ba mỏ này ở Lai Châu đã chiếm gần như toàn bộ trữ lượng đất hiếm nguyên sinh và phong hóa của cả nước. Ngoài ra còn có các mỏ nhỏ hơn ở Lào Cai và sa khoáng ven biển chứa monazit, xenotim với trữ lượng một số mỏ khoảng 303.000 tấn dọc bờ biển miền Trung.
Tài nguyên có, nhưng từ tài nguyên trong lòng đất tới sản phẩm có giá trị là cả một chuỗi dài mà Việt Nam mới đi được những bước đầu. Theo tham luận của Đại học Bách khoa Hà Nội, quặng đất hiếm thô có hàm lượng oxit đất hiếm chỉ 1 - 5%, qua tuyển khoáng nâng lên tinh quặng khoảng 30 - 40% và đây chính là mức mà đa số doanh nghiệp Việt Nam dừng lại. Từ tinh quặng đó, chuỗi giá trị còn phải đi qua nhiều nấc nữa: tách hóa học và tinh chế thành oxit đất hiếm riêng lẻ, luyện thành kim loại đất hiếm, rồi mới tới sản phẩm cuối giá trị cao nhất là nam châm vĩnh cửu NdFeB, thứ vật liệu mà cũng Đại học Bách khoa Hà Nội nói có giá trị cao gấp hàng trăm lần quặng thô.
Chính ở những nấc thang cuối này, Việt Nam gần như trắng. Mỏ Đông Pao, dù trữ lượng lớn, đến nay chưa khai thác thương mại. Năng lực tách chiết và tinh luyện oxit đất hiếm riêng rẽ trong nước gần như chưa hình thành lớp doanh nghiệp công nghiệp đúng nghĩa.
Sản lượng khai thác thực tế chỉ khoảng 600 tấn mỗi năm, một con số nhỏ đến mức không tương xứng với vị thế trữ lượng mà các con số trên giấy gợi ra. Đại học Bách khoa Hà Nội gọi tên nghịch lý này bằng một mệnh đề sắc bén: nước ta đang chịu cảnh xuất khẩu thô lượng lớn nhưng phải nhập khẩu tinh chất tinh khiết với giá thành gấp hàng trăm lần.
Vì sao khó đến vậy? Tham luận của Hội Khoa học Kỹ thuật Đúc - Luyện kim Việt Nam chỉ ra một nút thắt cốt tử: công nghệ tách và tinh chế nguyên tố đất hiếm riêng lẻ bị độc quyền chặt chẽ trên toàn cầu, việc chuyển giao sang Việt Nam vừa khó vừa chậm. Bên cạnh đó là đòi hỏi về thiết bị hạng nặng, về hạ tầng điện năng lớn và xử lý nước quy mô công nghiệp, về đội ngũ kỹ sư và nhà luyện kim được đào tạo chuyên sâu mà Việt Nam đang khan hiếm. Đây không phải là một mắt xích có thể lấp đầy bằng vài năm và vài dự án nhỏ lẻ. Nó đòi một chiến lược dài hơi, đúng tầm một ngành công nghiệp nền tảng.
Để thấy đất hiếm đang ở đâu, có một cách hữu ích là đặt nó cạnh một loại khoáng sản chiến lược khác mà Việt Nam đã làm khác hẳn: vonfram.
Ở Núi Pháo, Thái Nguyên, Công ty Cổ phần Masan High-Tech Materials vận hành mỏ đa kim được xem là mỏ vonfram lớn nhất ngoài Trung Quốc. Nhờ mỏ này, Việt Nam đứng hàng thứ hai thế giới về sản lượng vonfram, khoảng 3.400 tấn năm 2024, chiếm gần 22 phần trăm lượng vonfram nhập khẩu của Mỹ.
Quan trọng hơn con số sản lượng là điều Masan đã làm với quặng của mình: doanh nghiệp này không chỉ bán tinh quặng thô mà đã đi tới các sản phẩm vonfram cận sâu, tham gia vào mắt xích giá trị cao của chuỗi. Trong chu kỳ giá vonfram tăng nóng năm 2025, khi giá APT, nguyên liệu chính, có lúc lên quanh 630 USD một đơn vị MTU, gần gấp đôi mức bình quân năm trước và cao nhất hơn 13 năm, doanh thu Masan High-Tech Materials năm 2025 đạt 7.443 tỷ đồng, tăng 19%.
Vonfram và đất hiếm vì thế là hai mặt của cùng một tấm gương. Cùng là khoáng sản chiến lược, cùng nằm trên đất Việt Nam, nhưng một bên đã có doanh nghiệp leo lên mắt xích chế biến cận sâu và nắm một vị trí thực trong chuỗi giá trị toàn cầu, còn một bên vẫn loay hoay ở khâu quặng và tinh quặng. Sự tương phản ấy nói lên điều cốt lõi: tài nguyên tự nó không tạo ra quyền lực chuỗi. Cái tạo ra quyền lực là năng lực chế biến sâu, công nghệ và lớp doanh nghiệp dám đầu tư đi tới cùng chuỗi. Masan chứng minh người Việt làm được điều đó với vonfram. Câu hỏi là vì sao chưa làm được với đất hiếm và làm thế nào để có một Masan của đất hiếm?.
Đất hiếm cũng không phải trường hợp cá biệt. Nhìn rộng ra cả nhóm khoáng sản chiến lược, cùng một căn bệnh lặp lại. Bô xít Tây Nguyên do Tập đoàn Công nghiệp - Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) nắm, năm 2025 sản xuất khoảng 1,44 triệu tấn alumin, nhưng alumin mới chỉ là oxit nhôm, một sản phẩm trung gian; Việt Nam phần lớn xuất alumin sang Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản chứ chưa luyện nhôm kim loại quy mô lớn, tức dừng ở giữa chuỗi bô xít, alumin, nhôm. Titan ven biển miền Trung phần nhiều vẫn xuất ở dạng tinh quặng giá trị thấp. Niken mới ở giai đoạn dự án.
Tham luận của Trường Đại học Mỏ - Địa chất tổng kết bằng một nhận định thẳng thắn: đến nay Việt Nam vẫn chưa có danh mục rõ ràng về các khoáng sản chiến lược, cũng chưa hình thành đầy đủ chuỗi cung ứng từ khâu thượng nguồn là thăm dò, khai thác, tuyển khoáng đến khâu hạ nguồn là chế biến, tinh luyện, sản xuất vật liệu tiên tiến. Hệ quả là giá trị gia tăng thấp, khó thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ. Đây chính là chẩn đoán mà một tham luận khác đặt tên ngắn gọn là tình trạng thừa thô, thiếu tinh.
Việt Nam không đơn độc trong bài toán này, và cũng không nên giải bài toán này trong cô lập. Bức tranh đất hiếm toàn cầu mấy năm qua cho hai bài học rất rõ, một thuận và một cảnh báo.
Bài học thứ nhất đến từ Mỹ. Tháng 7/2025, trong một bước đi gần như chưa từng có tiền lệ, Bộ Quốc phòng Mỹ đã mua 400 triệu USD cổ phần ưu đãi của MP Materials, doanh nghiệp đất hiếm lớn nhất nước này, trở thành cổ đông lớn nhất với 15 phần trăm. Kèm theo là hợp đồng bao tiêu nam châm kéo dài 10 năm và cam kết khoảng 1,25 tỷ USD xây nhà máy nam châm mới tại Texas, với mục tiêu rõ ràng là loại đất hiếm Trung Quốc ra khỏi chuỗi cung ứng quốc phòng tới năm 2027.
Tại sao một nền kinh tế thị trường bậc nhất thế giới lại để nhà nước trực tiếp cầm cổ phần một doanh nghiệp khai khoáng? Bởi vì họ nhìn đất hiếm không phải như một mặt hàng, mà như một vấn đề an ninh quốc gia. Trung Quốc hiện tinh luyện khoảng 90% đất hiếm và 94% nam châm thiêu kết toàn cầu, biến khâu chế biến hạ nguồn thành một đòn bẩy quyền lực. Mỹ chấp nhận trả giá để giành lại mắt xích chế biến và nam châm, vì hiểu rằng ai nắm khâu tinh luyện và nam châm mới là người có quyền lực chuỗi, chứ không phải ai có nhiều quặng.
Bài học thứ hai, mang tính cảnh báo, đến từ Indonesia. Là nước có cung nickel lớn nhất thế giới, Indonesia siết xuất khẩu quặng nickel thô từ năm 2014 và cấm hẳn từ năm 2020, ép cả chuỗi luyện nickel, thép không gỉ và pin xe điện phải đặt nhà máy trong nước. Cựu Tổng thống Joko Widodo từng nêu chính sách này đã nâng giá trị xuất khẩu nickel từ 17 nghìn tỷ lên 510 nghìn tỷ Rupiah, một con số nhảy vọt gây ấn tượng mạnh.
Nhưng giới phân tích quốc tế chỉ ra mặt sau của tấm huy chương: phần lớn mức tăng đó đến từ sản lượng và từ giá nickel tăng, chứ chưa hẳn từ giá trị gia tăng công nghệ, kèm những lo ngại về môi trường và về phụ thuộc vốn, công nghệ nước ngoài. Bài học cho Việt Nam là phải đo giá trị gia tăng thực, không thể chỉ đếm kim ngạch rồi vội mừng. Cấm xuất thô là cần thiết để ép chế biến, nhưng nếu chế biến vẫn bằng công nghệ và vốn của người khác thì giá trị thực ở lại trong nước vẫn mỏng.
Đặt hai bài học cạnh nhau, đường đi cho Việt Nam hiện ra khá rõ. Một mặt, cần dứt khoát chuyển từ khai thác thô sang chế biến sâu, đúng tinh thần đang được luật hóa. Mặt khác, chế biến sâu phải đi cùng làm chủ công nghệ và đo đếm giá trị gia tăng thực, nếu không sẽ rơi vào "ảo giác tăng trưởng" như tấm gương Indonesia nhắc nhở. Và xuyên suốt cả hai, phải nhìn đất hiếm như một vấn đề an ninh nguyên vật liệu chiến lược, như cách Mỹ đã nhìn, chứ không phải như một mặt hàng xuất khẩu thông thường.
Điều khích lệ là khoảng trống đất hiếm đang gặp đúng một cửa sổ chính sách mở rộng nhất trong nhiều năm.
Trục pháp lý nền đã được dựng. Luật Địa chất và Khoáng sản số 54/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, lần đầu tiên có quy định riêng về đất hiếm, xếp đất hiếm vào nhóm khoáng sản chiến lược đặc biệt, và yêu cầu việc thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng phải tuân theo chiến lược và quy hoạch quốc gia. Đây là khung pháp lý gốc cho nguồn nguyên liệu vật liệu chiến lược, gắn trực tiếp với luận điểm chuyển từ khai thác sang chế biến sâu. Trước đó, Quyết định số 866/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt mục tiêu định lượng cho chính chuỗi đất hiếm: chế biến tới oxit, hydroxit, muối với hàm lượng tổng oxit đất hiếm từ 95% trở lên. Mục tiêu đã có trên giấy. Vấn đề còn lại là biến nó thành nhà máy.
Phía trên trục pháp lý là một cú hích chính trị ở tầm cao nhất. Theo Thông báo số 66-TB/VPTW ngày 25/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc ngày 21/5/2026 đã xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, giao xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Định hướng nêu rõ ba quan điểm không, trong đó có không xuất thô và không khai thác bằng mọi giá, cùng năm nhóm vật liệu ưu tiên mà đất hiếm đứng đầu danh sách. Tham luận của Hội Khoa học Đúc - Luyện kim Việt Nam tại hội thảo đề xuất thẳng: đưa công nghiệp vật liệu đất hiếm trở thành ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp gốc của nền kinh tế.
Một thay đổi về tổ chức cũng đang tạo thuận lợi. Quản lý nhà nước về khoáng sản đang trong quá trình chuyển giao về Bộ Công Thương, theo chủ trương ngày 3/6/2026; dự thảo nghị định liên quan còn đang được thẩm định, chưa ban hành, nên phải hiểu đây là tiến trình đang diễn ra. Nếu hoàn tất, lần đầu tiên một đầu mối có thể quy hoạch toàn chuỗi khoáng sản chiến lược, từ tài nguyên trong lòng đất, qua chế biến, tới cầu nội địa của các ngành hạ nguồn như xe điện, tua bin gió, robot và quốc phòng, trong cùng một mối thay vì để các mảng rời rạc. Đây là lợi thế tổ chức đặc thù để thiết kế một chiến lược chế biến sâu đất hiếm và nam châm có đầu ra bền vững.
Câu chuyện đất hiếm, suy cho cùng, là một lát cắt sắc nét của bài toán lớn hơn mà cả nhóm tài nguyên, khoáng sản chiến lược đang đối mặt: tài nguyên và sản lượng có thể nhiều, nhưng giá trị thật chỉ thuộc về ai làm chủ được mắt xích chế biến sâu và công nghệ lõi. Trữ lượng trên giấy, dù là 22 triệu tấn, hơn 17 triệu tấn hay 3,5 triệu tấn, cũng chỉ là tiềm năng. Nó chỉ trở thành của cải thật khi đi qua nhà máy tinh luyện, qua dây chuyền sản xuất nam châm, qua một lớp doanh nghiệp công nghiệp đủ tầm như Masan đã làm với vonfram.
Đó cũng chính là chỗ vai trò của Quốc hội trở nên quyết định. Một con số trữ lượng minh bạch, một danh mục khoáng sản chiến lược rõ ràng, một chuỗi giá trị được quy hoạch trọn vẹn từ thượng nguồn tới hạ nguồn: tất cả những điều đó không thể chỉ trông vào nỗ lực của từng doanh nghiệp, mà phải được thể chế hóa thành luật, thành quy hoạch, thành chính sách. Luật Địa chất và Khoáng sản số 54/2024/QH15 đã mở cánh cửa đầu tiên khi lần đầu đặt đất hiếm vào khung pháp lý riêng. Việc chuyển giao quản lý khoáng sản về một đầu mối, nếu được hoàn tất, sẽ là bước thể chế tiếp theo. Đây chính là cách Quốc hội biến tầm nhìn trong Thông báo số 66-TB/VPTW thành những công cụ pháp lý có hiệu lực thực thi.
Bước đầu tiên của con đường ấy, nghịch lý thay, lại nằm ở chính một con số. Trước khi đàm phán với bất kỳ ai, trước khi vẽ bất kỳ chiến lược nào, Việt Nam cần một con số trữ lượng đất hiếm được thăm dò bài bản, kiểm chứng độc lập và công bố minh bạch theo chuẩn quốc tế. Đó là lý do bài viết này không khép lại bằng một con số chiến thắng, mà bằng một kiến nghị: các cơ quan quản lý địa chất, khoáng sản cùng các cơ quan chuyên môn cần sớm rà soát, đối chiếu và công bố lại con số trữ lượng đất hiếm cho chắc chắn. Bởi chừng nào con số trên giấy còn chênh nhau hơn sáu lần, chừng đó Việt Nam vẫn chỉ giàu tài nguyên chiến lược trên giấy. Giàu thật bắt đầu từ một con số thật, và từ một nhà máy biết tinh luyện quặng thành của cải.