Có thể ví Hội thảo "Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới" như một hội nghị Diên Hồng của ngành công nghiệp nền tảng: dưới mái nhà Quốc hội, các bộ ngành, địa phương, viện nghiên cứu, hiệp hội và tập đoàn đầu ngành cùng về hiến kế cho một câu hỏi lớn của đất nước.
Cũng tại hội thảo do Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức ngày 15/6/2026 dưới sự chỉ đạo của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, các con số trong báo cáo đề dẫn và 36 tham luận xếp cạnh nhau bỗng vẽ ra một hình thù lạ. Đặt lên cùng một trục dọc theo chuỗi giá trị công nghiệp, từ sản phẩm cuối ngược lên vật liệu thượng nguồn, các dữ kiện rời rạc ấy hợp thành một tấm bản đồ về quyền sở hữu: ai đang làm chủ mắt xích nào.
Tấm bản đồ ấy có một quy luật rõ đến mức gần như có thể vẽ thành đường dốc. Ở chân chuỗi, sát người tiêu dùng, lá cờ doanh nghiệp Việt cắm dày. Càng leo ngược lên đỉnh, nơi nằm vật liệu lõi, lá cờ Việt thưa dần rồi nhường chỗ cho khối có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc để trống. Bài viết này thử đọc tấm bản đồ đó theo chiều dọc, lần từng nấc, để thấy vì sao cùng một đất nước, cùng một thời điểm, hai đầu chuỗi lại cho hai bức tranh sở hữu trái ngược, và vì sao mọi đường dốc ấy đều quy về một điểm nghẽn: cuộn cán nóng.
Hãy bắt đầu từ chân chuỗi, nơi gần người tiêu dùng nhất và cũng là nơi đáng mừng nhất.
Ở ô tô, một bước ngoặt đã xảy ra. Năm 2025, VinFast bàn giao 175.099 xe điện tại thị trường trong nước, dẫn đầu toàn thị trường. Con số ấy đáng kể không chỉ vì độ lớn, mà vì một so sánh: nó gần đúng bằng tổng ba hãng xếp ngay sau cộng lại, gồm Toyota 71.954 xe, Hyundai 53.229 xe và Ford 50.450 xe. Một thương hiệu nội, ở phân khúc mà ít năm trước còn được mặc định là sân của các hãng toàn cầu, nay đứng trên đỉnh bảng doanh số ngay tại nhà.
Vì sao người Việt thắng ở nấc này? Câu trả lời nằm ở chính đặc tính của các mắt xích hạ nguồn: gần thị trường tiêu dùng, thâm dụng vốn vừa phải, và cầu trong nước đủ lớn để nuôi doanh nghiệp lớn lên. Khi điều kiện ấy hội đủ, doanh nghiệp Việt không thua kém ai về tổ chức sản xuất, làm thương hiệu và chiếm lĩnh kênh phân phối. Đây là điều cần ghi nhớ khi đọc tiếp lên các nấc cao hơn: vấn đề của ngành không phải người Việt không làm được, mà là ở những nấc nào người Việt chưa làm được, và vì sao.
Bước lên một nấc, tới vật liệu nền, bức tranh vẫn còn sáng nhưng đã bắt đầu pha màu.
Ở thép, đây là nơi doanh nghiệp nội mạnh và rõ nét nhất. Năm 2025, ngành thép cả nước đạt sản lượng thép thô kỷ lục 24,7 triệu tấn, tăng 12% và là mức cao nhất năm năm (Hiệp hội Thép Việt Nam, công bố đầu 2026); năng lực toàn ngành đã vượt 30 triệu tấn thép thô và hơn 40 triệu tấn thép thành phẩm mỗi năm. Đứng đầu là một doanh nghiệp tư nhân nội, Tập đoàn Hòa Phát, với 11 triệu tấn thép thô năm 2025, công suất hướng tới 16 triệu tấn vào cuối 2026, lớn nhất Đông Nam Á. Ở mắt xích này, người Việt không chỉ có mặt mà còn dẫn dắt. Việt Nam đã leo vào nhóm 15 nước sản xuất thép thô lớn nhất thế giới.
Nhưng ngay trong nhóm vật liệu nền, một ranh giới mờ đã lộ ra, ở cuộn cán nóng. Tại hội thảo Quốc hội, một câu trong bản tham luận của Tập đoàn Hòa Phát được đọc lên giữa hội trường: "Đến nay, chúng tôi tự hào là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất sản xuất được thép cuộn cán nóng (HRC), làm chủ công nghệ sản xuất thép phục vụ công nghiệp chế tạo, nền tảng cốt lõi của công nghiệp nặng".
Hai chữ "duy nhất" trong câu nói ấy là toàn bộ vấn đề. Một quốc gia đã đứng nhóm 15 thế giới về thép thô, vậy mà ở mắt xích cuộn cán nóng, đầu vào thiết yếu cho cả ngành tôn mạ và ống thép, mới chỉ có đúng một doanh nghiệp nội làm chủ được. Phần còn lại của nhu cầu vẫn phải trông vào nhập khẩu và vào một nhà sản xuất vốn nước ngoài. Đó là cái nút cổ chai mà bài viết này muốn soi vào, theo đúng cách một cuộc điều tra dữ liệu chuỗi cung phải làm: đặt công suất bên cạnh nhu cầu, đặt lượng nhập bên cạnh năng lực nội, rồi hỏi xem quyền tự chủ của cả ngành đang nằm ở đâu.
Để hiểu vì sao một cuộn thép lại quan trọng đến thế, phải nhìn vào vị trí của nó trên chuỗi. HRC, tên đầy đủ là thép cuộn cán nóng, là sản phẩm trung gian được cán ra từ phôi thép ở nhiệt độ cao. Từ HRC, các nhà máy hạ nguồn mới làm tiếp ra thép cán nguội, tôn mạ kẽm, tôn mạ màu, ống thép hàn, và nhiều cấu kiện cho đóng tàu, cơ khí. Nói cách khác, HRC đứng ở chính giữa, là cửa ngõ bắt buộc đi qua giữa khâu luyện thép thượng nguồn và hàng loạt sản phẩm hạ nguồn mà người tiêu dùng nhìn thấy mỗi ngày. Đây chính là tầng vật liệu nuôi chính các doanh nghiệp đang thắng ở hạ nguồn.
Khi cửa ngõ ấy hẹp, mọi thứ phía sau nó đều chịu sức ép. Đây không phải suy luận, mà là điều đọc được từ con số. Năm 2024, tổng công suất HRC của hai nhà sản xuất tại Việt Nam là Hòa Phát và Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh cộng lại mới khoảng 8,6 triệu tấn, vẫn chưa đủ cầu nội địa, nên Việt Nam tiếp tục nhập khẩu HRC quy mô lớn, đặc biệt từ Trung Quốc và Ấn Độ. Một thị trường thép thô đứng nhóm 15 thế giới nhưng lại thiếu hụt ngay ở khâu cuộn cán nóng: đó là nghịch lý gói gọn của tự chủ vật liệu nền.
Tham luận của một số chuyên gia tại hội thảo Quốc hội đặt nghịch lý này vào một mệnh đề rộng hơn. Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Chiến, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Cơ khí, Tự động hóa và Môi trường, thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) chỉ ra rằng mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 11 đến 13 triệu tấn thép các loại, tiêu tốn kim ngạch ngoại tệ 9,5 đến 11,5 tỷ USD, tập trung ở thép hợp kim đặc chủng, thép chế tạo máy, thép tấm cán nóng chất lượng cao và cấu kiện cơ khí chế tạo sẵn.
Một cuộc điều tra dữ liệu không được phép gộp bừa các con số từ những nguồn khác nhau. Về lượng thép nhập khẩu, hiện có ít nhất hai kỳ số liệu cần đặt cạnh nhau và ghi rõ xuất xứ.
Theo nhóm tham luận tại hội thảo Quốc hội ngày 15/6/2026, dẫn số của Hiệp hội Thép Việt Nam, Việt Nam nhập khẩu khoảng 11 đến 13 triệu tấn thép mỗi năm, tương ứng 9,5 đến 11,5 tỷ USD. Đây là con số mới nhất, có tầm vóc nguồn cấp Quốc hội. Bên cạnh đó, dữ liệu tổng hợp của ngành trước hội thảo ghi nhận thép nhập khẩu năm 2025 ở mức trên 16,1 triệu tấn, khoảng 11,1 tỷ USD, trong đó từ Trung Quốc chiếm khoảng 57 đến 58% (Hiệp hội Thép Việt Nam, số liệu cả năm 2025). Hai con số 11 đến 13 triệu tấn và 16,1 triệu tấn có thể khác nhau về phạm vi thống kê, về cách phân loại mặt hàng thép, hoặc về kỳ chốt số liệu. Bài viết đặt chúng cạnh nhau, không tự hợp nhất.
Điều cần làm rõ là chúng không mâu thuẫn ở thông điệp gốc, dù lệch ở độ lớn: Việt Nam nhập khẩu thép ở quy mô hơn chục triệu tấn mỗi năm, tiêu tốn quanh ngưỡng 10 tỷ USD ngoại tệ, và một phần đáng kể trong đó chính là cuộn cán nóng cùng thép chất lượng cao mà trong nước chưa làm đủ hoặc chưa làm được.
Đặt lượng nhập ấy cạnh năng lực nội, mới thấy hết độ căng của nút cổ chai. Tổng công suất HRC trong nước năm 2024 khoảng 8,6 triệu tấn, trong khi riêng lượng thép nhập về đã hơn chục triệu tấn. Khoảng cách giữa hai con số ấy là phần thị trường mà doanh nghiệp Việt đang để tuột khỏi tay ngay trên sân nhà, ở đúng mắt xích quyết định.
Trong bức tranh thiếu hụt ấy, có một mũi vươn lên rõ rệt. Năm 2025, Hòa Phát sản xuất 11 triệu tấn thép thô (tăng 26%), bán hàng 10,6 triệu tấn (tăng 31%), riêng cuộn cán nóng HRC đạt 5 triệu tấn, tăng tới 73% nhờ khu liên hợp Dung Quất 2 đi vào vận hành; công suất của tập đoàn hướng tới 16 triệu tấn cuối 2026, lớn nhất Đông Nam Á (VietnamPlus). Con số tăng 73% chỉ trong một năm của riêng sản phẩm HRC là chỉ dấu cho thấy một doanh nghiệp nội đang dồn lực lấp đúng cái mắt xích mà cả ngành thiếu.
Nhưng một mũi vươn lên chưa đủ để gọi là tự chủ. Bản chất câu chuyện vẫn là cuộc rượt đuổi giữa công suất nội và nhu cầu cộng lượng nhập. Ngay cả khi Hòa Phát đạt 5 triệu tấn HRC năm 2025 và đặt mục tiêu 16 triệu tấn tổng công suất cuối 2026, thì khoảng trống mà thị trường để lại vẫn lớn, bằng chứng là lượng thép nhập hằng năm vẫn ở mức hơn chục triệu tấn. Năng lực toàn ngành thép tuy đã vượt 30 triệu tấn thép thô mỗi năm, nhưng phân bố không đều theo chiều sâu của chuỗi: dồi dào ở thép xây dựng thông dụng, mỏng ở cuộn cán nóng, gần như trống ở thép hợp kim đặc chủng và thép chế tạo.
Có một chi tiết về sở hữu mà đề tài tự chủ vật liệu nền không thể bỏ qua. Nhà sản xuất HRC quy mô còn lại bên cạnh Hòa Phát là Formosa Hà Tĩnh, doanh nghiệp vốn Đài Loan với tổ hợp đặt tại Khu kinh tế Vũng Áng. Điều đó có nghĩa: trong tổng công suất HRC khoảng 8,6 triệu tấn của năm 2024, một phần đáng kể nằm ở một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Năng lực tự chủ HRC của Việt Nam, vì thế, vẫn đang chia sẻ với khối FDI. Một mắt xích chiến lược mà phần lớn năng lực nằm trong tay đúng một doanh nghiệp nội và một doanh nghiệp ngoại, đó là trạng thái mong manh chứ chưa phải tự chủ vững chắc.
Cái giá của việc thiếu tự chủ ở thượng nguồn không nằm lại ở thượng nguồn. Nó chảy xuống hạ nguồn, thấm vào từng bảng cân đối của doanh nghiệp tôn mạ và ống thép, những cái tên đang thắng thị phần ngay trên sân nhà.
Hãy nhìn vào doanh nghiệp dẫn đầu. Tập đoàn Hoa Sen giữ ngôi đầu thị phần tôn mạ với khoảng 26,2% trong chín tháng đầu 2024. Một vị trí dẫn đầu thị trường nội như vậy, lẽ thường phải đi cùng biên lợi nhuận dày. Nhưng số liệu kể một câu chuyện khác. Niên độ tài chính 2024 đến 2025, Hoa Sen đạt doanh thu thuần 36.538 tỷ đồng, mà biên lợi nhuận gộp chỉ khoảng 12,4%. Lãi mỏng trên doanh thu lớn: đó là dấu vết của một doanh nghiệp gia công trên nền nguyên liệu HRC nhập, nơi phần lớn giá trị đã bị mắt xích thượng nguồn lấy đi trước khi cuộn thép kịp về tới dây chuyền mạ.
Tổn thương không dừng ở đầu vào. Nó còn đến từ đầu ra. Từ tháng 9/2024, Bộ Thương mại Hoa Kỳ khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với tôn thép mạ kẽm, mạ lạnh, mạ màu xuất khẩu từ Việt Nam, khiến xuất khẩu sang Hoa Kỳ của các doanh nghiệp tôn mạ bị gián đoạn. Đặt hai sức ép cạnh nhau sẽ thấy thế kẹt kép của ngành tôn mạ: đầu vào lệ thuộc HRC nhập nên biên lợi nhuận mỏng, đầu ra lại vấp rào cản phòng vệ thương mại ở thị trường lớn. Một doanh nghiệp mạnh về thị phần trong nước nhưng kẹt cả hai đầu như vậy thì sức chống chịu trước biến động bên ngoài rất hạn chế. Quyền lực thật của chuỗi, một lần nữa, lộ ra là nằm ở mắt xích thượng nguồn, nơi ai làm chủ cuộn cán nóng thì người đó định đoạt biên lợi nhuận của cả phần còn lại.
Quy luật "ai nắm thượng nguồn người đó nắm chuỗi" không phải chuyện riêng của thép. Nhật Bản đã mất phần lớn vị thế trong ngành sản xuất chip nhưng vẫn chi phối chuỗi bán dẫn toàn cầu nhờ giữ lớp vật liệu thượng nguồn ẩn; Trung Quốc kiểm soát phần lớn công đoạn tinh luyện đất hiếm nên nắm đòn bẩy với cả ngành xe điện và robot. Họ không buông thượng nguồn để chạy theo hạ nguồn. Soi lại trường hợp HRC dưới ánh sáng ấy, vấn đề hiện ra sắc nét: chừng nào Việt Nam chưa làm chủ cuộn cán nóng và thép chế tạo, thì mọi thành tích thị phần ở hạ nguồn vẫn đặt trên một nền móng mà người khác kiểm soát.
Đến đây, câu chuyện một cuộn thép đã vượt khỏi phạm vi kinh tế ngành. Nó chạm vào một mệnh đề mà các văn kiện mới nhất của Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu: vật liệu thượng nguồn là vấn đề an ninh quốc gia.
Căn cứ chính trị cao nhất và mới nhất cho mệnh đề này là Thông báo số 66-TB/VPTW ngày 25/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng, thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về phát triển công nghiệp vật liệu. Thông báo xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, định hướng tổ chức theo ba nhóm (vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai) và nêu nguyên tắc ba không: không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường.
Tại hội thảo Quốc hội ngày 15/6/2026, báo cáo đề dẫn của Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đưa thép ray chất lượng cao, thép cầu đặc chủng vào nhóm vật liệu phục vụ đường sắt tốc độ cao, và xếp thép, hợp kim chuyên dụng vào nhóm vật liệu phục vụ điện hạt nhân, tức là chính thức coi các loại thép đặc chủng là vật liệu chiến lược.
Mệnh đề an ninh không hề trừu tượng. Một dữ kiện tại hội thảo cho thấy rõ: đại diện cơ khí quốc phòng đánh giá năng lực tự chủ vật liệu của lĩnh vực này còn rất thấp, phụ thuộc nhập khẩu từ 70 đến 80%; những loại như thép chống đạn cho xe thiết giáp, thép đặc chủng cho nòng súng và pháo, vật liệu lưỡng kim, hiện vẫn chưa sản xuất được trong nước (tham luận Công ty 189 và Nhà máy Z117, hội thảo Quốc hội 15/6/2026).
Như đại diện Công ty TNHH một thành viên 189 (Bộ Quốc phòng) phát biểu tại hội thảo: "Một quốc gia không thể trở thành cường quốc kinh tế tự cường nếu thiếu đi một nền công nghiệp cơ khí tự chủ và một nền công nghiệp vật liệu vững chắc". Khi vật liệu nền của cả khu vực dân dụng lẫn quốc phòng đều phụ thuộc nhập khẩu ở tỷ lệ cao, thì rủi ro không chỉ là biên lợi nhuận của một doanh nghiệp tôn mạ, mà là khả năng chủ động của cả nền kinh tế và quốc phòng trước những biến động chuỗi cung bên ngoài.
Nếu mắt xích thượng nguồn là nơi quyết định, thì lời giải cũng phải bắt đầu từ đó. Các tham luận tại hội thảo Quốc hội ngày 15/6/2026 hội tụ vào một hướng chung, dù đến từ nhiều đơn vị khác nhau: phải tạo cho được lực kéo thị trường và hành lang chính sách đủ mạnh để hình thành lớp doanh nghiệp làm chủ thép chế tạo và cuộn cán nóng, thay vì để mặc thị trường tự xoay xở.
Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) đề xuất một Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026 đến 2045, trong đó xác định vật liệu nền tảng cần ưu tiên gồm thép tấm và thép lá chất lượng cao, thép hợp kim, thép đặc biệt cho chế tạo máy, thép chuyên dùng cho đường sắt, đóng tàu, năng lượng và công trình biển. Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) kiến nghị hình thành một chương trình quốc gia về thép chế tạo. Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) nêu định hướng phát triển chế biến chuyên sâu các loại thép hợp kim tiêu chuẩn cao để từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn vật liệu nhập khẩu.
Tại hội thảo "Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới", ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí phát biểu đề xuất một Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026 đến 2045.
Mạch kiến nghị này không dừng ở nguyện vọng của doanh nghiệp, mà đang được nâng lên tầm thể chế, nơi vai trò của Quốc hội hiện ra rõ nhất. Ở tầng chính sách, Chính phủ đã thông qua Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm bằng Nghị quyết 82/NQ-CP ngày 3/4/2026, Bộ Công Thương lập Tổ soạn thảo bằng Quyết định 968/QĐ-BCT ngày 22/4/2026. Hội thảo nhiều lần nhắc tới hai trục thể chế đang hình thành: Luật Công nghiệp trọng điểm, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công nghiệp vật liệu, cơ khí, bán dẫn, năng lượng; và một nghị quyết chuyên đề của Quốc hội về cơ chế đặc thù cho cơ khí, vật liệu trọng điểm. Quản lý nhà nước về khoáng sản, đầu vào sâu xa của chuỗi vật liệu, cũng đang trong quá trình chuyển giao về Bộ Công Thương theo chủ trương đã có, dự thảo nghị định liên quan còn ở khâu hoàn thiện. Nếu hoàn tất, lần đầu một đầu mối có thể quy hoạch toàn chuỗi từ quặng sắt và than mỡ luyện cốc cho tới cuộn cán nóng và thép chế tạo, để cả chuỗi cùng được kéo lên một nhịp.
Đây chính là chỗ Thông báo 66 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gặp công việc lập pháp của Quốc hội. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã định hướng: công nghiệp vật liệu là ngành nền tảng, chiến lược, phải tự chủ cho được. Nhiệm vụ thể chế hóa định hướng ấy thành luật và nghị quyết, biến một mệnh lệnh chính trị thành hành lang pháp lý có hiệu lực cưỡng chế và nguồn lực đi kèm, thuộc về Quốc hội.
Trở lại câu nói mở đầu của Hòa Phát giữa hội trường Quốc hội. Hai chữ "duy nhất" vừa là niềm tự hào, vừa là lời cảnh báo. Tự hào, vì rốt cuộc Việt Nam đã có một doanh nghiệp nội làm chủ được cuộn cán nóng. Cảnh báo, vì một mắt xích chiến lược của cả nền kinh tế không thể mãi trông vào đúng một cái tên. Tấm bản đồ làm chủ chuỗi cho thấy người Việt đã cắm chắc cờ ở phần chân; việc còn lại, khó hơn và đáng làm hơn, là kéo lá cờ ấy lên tới đỉnh. Khi Quốc hội thể chế hóa thành công nhiệm vụ Tổng Bí thư giao, để chữ "duy nhất" sớm trở thành "nhiều doanh nghiệp", đó mới là lúc ngành thép Việt thực sự đứng trên đôi chân tự chủ của mình.