Đóng

Mô hình tổ chức bộ máy mới của Bộ Công Thương tại Nghị định số 351/2026/NĐ-CP - Bài 4: Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam về 'mái nhà xưa'

Từ ngày 15/9/2026, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trở thành một trong 21 đơn vị thuộc Bộ Công Thương.

(Công Thương) - Từ ngày 15/9/2026, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trở thành một trong 21 đơn vị thuộc Bộ Công Thương. Sau nhiều lần thay đổi cơ quan chủ quản, lĩnh vực địa chất, khoáng sản nay được đặt gần hơn với công nghiệp khai thác, chế biến và các ngành sử dụng khoáng sản. Một chuỗi quản lý mới đã được hình thành song thước đo cuối cùng vẫn nằm ở khả năng giữ dữ liệu thông suốt, giải quyết hồ sơ liên tục và biến tài nguyên dưới lòng đất thành giá trị cho nền kinh tế.

Ngày 11/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 351/2026/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương. Ngày 15/9/2026, nghị định có hiệu lực, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam chính thức trở thành 1 trong 21 đơn vị thuộc Bộ.

Trước đó, ngày 4/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản. Nghị quyết này quy định việc chuyển giao chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền giữa các bộ trong quá trình sắp xếp lại bộ máy, có hiệu lực từ ngày 15/9/2026 và được áp dụng đến hết ngày 28/2/2027.

Chiều 14/9/2026 tại Hà Nội, Bộ Công Thương phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Lễ tiếp nhận, bàn giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản và khu công nghiệp. Buổi lễ do Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài và Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp đồng chủ trì.

Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Trương Thanh Hoài cho biết, Bộ Công Thương đã phối hợp với các bộ rà soát, báo cáo kế hoạch sửa đổi những văn bản pháp luật liên quan, chuẩn bị tiếp nhận và tiếp tục giải quyết các hồ sơ được chuyển giao. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và đầu mối tiếp nhận hồ sơ cũng được yêu cầu duy trì hoạt động liên tục để quá trình chuyển tiếp không làm gián đoạn công việc của cơ quan quản lý và doanh nghiệp.

Từ phía cơ quan bàn giao, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, việc điều chuyển nhằm đưa một công việc về một cơ quan thực hiện xuyên suốt, từ nghiên cứu, khảo sát, điều tra trữ lượng đến chế biến sâu và xuất khẩu. Hai bộ đã làm việc với nhau hơn một tháng để chuẩn bị cho quá trình chuyển giao, bảo đảm có thể triển khai ngay khi các quyết định có hiệu lực.

Ngày 14/9, Bộ Công Thương phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tiếp nhận, bàn giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản và khu công nghiệp.

Phát biểu nhận nhiệm vụ, Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Trần Bình Trọng khẳng định, Cục sẽ tiếp tục ổn định tổ chức và bảo đảm hoạt động quản lý thông suốt. Ông cho biết, cùng với nhiệm vụ điều tra cơ bản địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và quản lý hoạt động khoáng sản, thời gian tới Cục sẽ tập trung hơn vào khoáng sản chiến lược, khoáng sản quan trọng và đất hiếm, bảo đảm an ninh tài nguyên và nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, điều phối hiệu quả nguồn vật liệu xây dựng thông thường, hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản quốc gia, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý.

Đại diện hai bộ đã ký biên bản bàn giao ngay tại buổi lễ, cùng với Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 8 liên đoàn, 2 chi cục và 2 trung tâm chuyển sang cơ quan chủ quản mới. Quy mô chuyển giao lớn nhưng bộ máy có thể thay đổi, còn hồ sơ đang xử lý, dữ liệu quản lý và công việc của doanh nghiệp phải được tiếp nối bình thường.

Theo Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP, việc chuyển chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản được thực hiện giữa 4 bộ gồm: Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Xây dựng.

Riêng lĩnh vực địa chất và khoáng sản, Bộ Công Thương tiếp nhận nhiệm vụ từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Xây dựng. Những nhiệm vụ trước đây được giao cho hai bộ này tại luật và các nghị định liên quan nay được chuyển sang Bộ Công Thương thực hiện.

Thay đổi tiếp tục được triển khai ở cấp địa phương, các nhiệm vụ tham mưu tương ứng trước đây thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường và Sở Xây dựng được chuyển sang Sở Công Thương. 

Cùng với tổ chức bộ máy, khối lượng lớn nhiệm vụ và thẩm quyền pháp lý cũng được chuyển theo. Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP liệt kê cụ thể từng điều, khoản và điểm thuộc các văn bản pháp luật được chuyển sang Bộ Công Thương thực hiện. 

Các văn bản có nhiệm vụ về địa chất, khoáng sản chuyển sang Bộ Công Thương.

Cùng đó, Điều 4 Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP quy định giấy phép, quyết định và các văn bản đã ban hành tiếp tục có giá trị pháp lý cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, thay thế hay thu hồi theo quy định. Doanh nghiệp không phải xin cấp lại chỉ vì cơ quan quản lý thay đổi.

Kết quả thẩm định của Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia cùng các hội đồng chuyên môn tiếp tục được sử dụng. Hồ sơ thủ tục hành chính đã được tiếp nhận hợp lệ trước ngày 15/9 nhưng chưa có kết quả được chuyển nguyên trạng sang Bộ Công Thương hoặc Sở Công Thương. Người dân và doanh nghiệp không phải nộp lại hồ sơ, phí hoặc lệ phí. Thời hạn giải quyết cũng không tính lại từ đầu.

Nghĩa vụ tài chính đã được xác lập tiếp tục có hiệu lực; các chương trình, đề án và dự án điều tra cơ bản địa chất đã được phê duyệt tiếp tục triển khai theo quyết định đã có. Cơ quan bàn giao chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác của hồ sơ và dữ liệu trước thời điểm chuyển giao. Kể từ thời điểm tiếp nhận, trách nhiệm duy trì quá trình xử lý liên tục thuộc Bộ Công Thương.

Như vậy, việc sắp xếp lần này được thực hiện đồng bộ từ Trung ương xuống địa phương, gắn việc đổi cơ quan chủ quản với yêu cầu giữ cho quá trình xử lý hồ sơ, quản lý dữ liệu và phục vụ doanh nghiệp không bị gián đoạn.

Chỉ 2 ngày sau khi chức năng quản lý địa chất, khoáng sản chính thức chuyển về Bộ Công Thương, những hồ sơ đầu tiên đã được công khai theo thẩm quyền mới. Từ khai thác sắt tại Thạch Khê đến thăm dò vàng ở Nà Pò, Khuổi Ngọa, Khuổi Tấy, hoạt động xử lý thủ tục đã được triển khai ngay trong những ngày đầu sau chuyển giao, bộ máy mới nhanh chóng bắt nhịp, triển khai với công việc thực tế...

Điểm thay đổi lớn hơn nằm ở phạm vi quản lý. Theo Nghị định số 40/2025/NĐ-CP, Bộ Công Thương đã quản lý công nghiệp khai thác, chế biến và tiêu thụ khoáng sản nhưng vẫn loại trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng. Trong khi đó, điều tra địa chất, quy hoạch cùng nhiều nhiệm vụ quản lý khoáng sản được phân công cho các cơ quan khác.

Nghị định số 351/2026/NĐ-CP sắp xếp lại cấu trúc này theo hướng liền mạch hơn. "Địa chất, khoáng sản" được xác định thành một lĩnh vực quản lý riêng của Bộ Công Thương. Khoản 11 Điều 2 dành 15 nhóm nhiệm vụ cho lĩnh vực này, còn Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam được đưa vào cơ cấu Bộ tại khoản 18 Điều 3 với vai trò đơn vị chuyên trách.

Phạm vi công việc trải suốt vòng đời tài nguyên, bắt đầu từ điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng, thống kê và kiểm kê trữ lượng, tiếp đến quy hoạch, khoanh định khu vực dự trữ, đấu giá quyền khai thác, cấp phép, quản lý trữ lượng, kiểm tra chuyên ngành rồi xử lý các nội dung liên quan đến đóng cửa mỏ.

Đầu tiên là điều tra và quản lý dữ liệu địa chất. Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản, tổ chức và công bố kết quả điều tra, đăng ký hoạt động điều tra, thống kê và kiểm kê tài nguyên địa chất, trữ lượng khoáng sản. Đây cũng là nền dữ liệu để xác định tiềm năng tài nguyên trước khi bước sang các khâu quy hoạch và khai thác.

Thứ hai liên quan đến quy hoạch và khoanh định tài nguyên. Bộ tổ chức lập, phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch điều tra cơ bản địa chất, khoáng sản và quy hoạch khoáng sản. Cùng với đó là khoanh định khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, khu vực không đấu giá quyền khai thác, danh mục khoáng sản chiến lược, quan trọng, khu vực có di sản địa chất, công viên địa chất và khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ.

Thứ ba là quyền khai thác và nghĩa vụ tài chính. Bộ Công Thương tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản, cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi, cấp đổi giấy phép thăm dò và khai thác theo thẩm quyền, đồng thời xác định, quyết toán và điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Các chi phí đánh giá tiềm năng, chi phí thăm dò phải hoàn trả cùng việc lượng hóa giá trị tài nguyên địa chất, khoáng sản cũng nằm trong nhóm nhiệm vụ này. 

Thứ tư bao gồm thẩm định, kiểm tra và quản lý hoạt động khoáng sản. Bộ tổ chức kiểm tra chuyên ngành trên phạm vi cả nước, thẩm định đề án, dự án và báo cáo kết quả thăm dò, công nhận kết quả thăm dò, quản lý trữ lượng, xác nhận trữ lượng huy động vào dự án khai thác. Bộ cũng ban hành theo thẩm quyền các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật và xử lý các nội dung liên quan đến đóng cửa mỏ.

Cuối cùng gắn với bảo vệ tài nguyên và phối hợp quản lý với địa phương. Bộ chuyển giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh danh mục các khu vực có tài nguyên địa chất, khoáng sản cần bảo vệ đã và đang được điều tra. Điểm p khép lại khoản 11 bằng quy định Bộ Công Thương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về địa chất, khoáng sản theo pháp luật và theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Nhìn theo chuỗi này, điểm mới nằm ở tính liên tục của quản lý. Điều tra tạo dữ liệu cho quy hoạch, quy hoạch làm căn cứ cấp quyền, cấp quyền đi cùng giám sát khai thác và nghĩa vụ tài chính, còn cuối vòng đời mỏ là đóng cửa và tiếp tục bảo vệ tài nguyên. Phạm vi đó rộng hơn rõ rệt so với cách Bộ Công Thương trước đây chủ yếu quản lý khoáng sản ở khâu khai thác, chế biến và sử dụng cho công nghiệp.

Địa chất, khoáng sản trong Nghị định số 40/2025/NĐ-CP và Nghị định số 351/2026/NĐ-CP.

Cơ quan địa chất quốc gia không được tổ chức theo một khuôn mẫu duy nhất. Khảo sát 10 nước cho thấy cách bố trí cơ quan này phụ thuộc nhiều vào mô hình quản lý tài nguyên và hệ thống nghiên cứu của từng quốc gia.

Cơ quan địa chất ở một số quốc gia.

Indonesia có nhiều nét gần với mô hình mới của Việt Nam. Cơ quan Địa chất trực thuộc Bộ Năng lượng và Tài nguyên khoáng sản, phụ trách điều tra địa chất, tài nguyên địa chất, nước dưới đất, núi lửa và giảm nhẹ tai biến địa chất. Quản lý khoáng sản và than do một đơn vị khác trong cùng bộ đảm nhiệm. Như vậy, điều tra địa chất và quản lý khai khoáng được tách về chuyên môn nhưng vẫn nằm trong cùng một hệ thống quản lý.

Một số nước lựa chọn mô hình gắn chặt hơn giữa điều tra địa chất và quản lý khai khoáng. Tại Chile, SERNAGEOMIN vừa thực hiện điều tra, cung cấp thông tin địa chất cơ bản vừa tham gia giám sát an toàn mỏ, quyền khai thác và kế hoạch đóng cửa mỏ. Philippines giao cả điều tra địa khoa học và quản lý tài nguyên khoáng sản cho Cục Mỏ và Địa khoa học thuộc Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên. 

Mỹ phân định khá rõ giữa khoa học địa chất và quản lý khai thác. USGS là cơ quan khoa học của Bộ Nội vụ, tập trung nghiên cứu, đánh giá và cung cấp thông tin về địa chất, nước, khoáng sản, tài nguyên và tai biến. Mô hình này giữ chức năng khoa học địa chất ở một đầu mối chuyên môn thay vì gộp toàn bộ quản lý khoáng sản vào cơ quan khảo sát địa chất. 

Anh, Nhật Bản và Hàn Quốc nghiêng về mô hình nghiên cứu. BGS của Anh là trung tâm nghiên cứu thuộc Hội đồng Nghiên cứu Môi trường tự nhiên trong hệ thống UKRI. GSJ của Nhật Bản nằm trong AIST và tập trung xây dựng, cung cấp dữ liệu địa chất quốc gia cùng các nghiên cứu về tài nguyên, môi trường và tai biến. 

Tách cơ quan địa chất khỏi nhiệm vụ phát triển tài nguyên không có nghĩa chuỗi khoáng sản bị bỏ trống. Nhật Bản có JOGMEC thành lập năm 2004 trên cơ sở tiếp nhận chức năng của cơ quan dầu khí quốc gia và cơ quan khai khoáng kim loại, với nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm nguồn cung tài nguyên và năng lượng. Cách tổ chức này cho phép cơ quan khảo sát địa chất tập trung vào khoa học và dữ liệu trong khi một đầu mối khác đảm nhiệm phần phát triển tài nguyên, đầu tư và chuỗi cung ứng.

Dù tổ chức theo mô hình nào, dữ liệu địa chất đang trở thành một phần hạ tầng của quản lý tài nguyên. Canada phát triển dữ liệu lõi khoan số phục vụ tìm kiếm khoáng sản chiến lược. Trung Quốc đẩy mạnh số hóa điều tra địa chất. Như vậy, dữ liệu không còn nằm phía sau các cuộc khảo sát mà trực tiếp phục vụ quy hoạch, thăm dò, đầu tư và quản lý tài nguyên.

Đặt trong bức tranh đó, việc đưa địa chất và khoáng sản về Bộ Công Thương từ ngày 15/9/2026 tạo  cấu trúc quản lý gần nhau hơn giữa điều tra tài nguyên, quản lý khoáng sản và các ngành công nghiệp sử dụng khoáng sản. Nghị định số 351/2026/NĐ-CP đặt lĩnh vực địa chất, khoáng sản trong cùng một bộ đang quản lý than, điện, dầu khí, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP yêu cầu hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phải được duy trì liên tục trong suốt quá trình chuyển giao.

Kinh nghiệm của các nước cho thấy không có một mô hình tổ chức duy nhất để sao chép. Điều quan trọng nằm ở khả năng nối liền ba phần việc vốn có quan hệ chặt chẽ với nhau gồm điều tra và dữ liệu địa chất, quản lý khoáng sản và đưa tài nguyên vào chuỗi sản xuất. Với Việt Nam, hiệu quả của mô hình mới sẽ được đo bằng chính khả năng kết nối ba mắt xích đó trong thực tế, từ dữ liệu dưới lòng đất tới giá trị tạo ra trong nhà máy.

Với ngành địa chất, ngày 15/9/2026 còn mang ý nghĩa khác, trở lại hệ thống quản lý công nghiệp sau gần 24 năm. Trong tám thập kỷ, cơ quan quản lý địa chất nhiều lần thay đổi tên gọi, mô hình tổ chức và cơ quan chủ quản, song lần trở lại này không đơn giản là đổi cơ quan chủ quản, đi cùng Cục là mạng lưới chuyên môn đã được tổ chức qua nhiều vùng địa chất cùng kho dữ liệu tích lũy trong nhiều thập kỷ.

Cơ quan quản lý địa chất giai đoạn từ 1945 - 2026

Trước thời điểm chuyển giao, cơ cấu Cục gồm: Văn phòng; 7 phòng chuyên môn; 2 chi cục; 8 liên đoàn và 2 trung tâm. Các liên đoàn đảm nhiệm những địa bàn và lĩnh vực điều tra khác nhau như địa chất biển, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, địa chất xạ hiếm và vật lý địa chất. Đây chính là lực lượng trực tiếp làm bản đồ, khảo sát, điều tra và đánh giá tài nguyên trên thực địa.

Phía sau mạng lưới này là tài sản khó đo bằng số đầu mối tổ chức, đó là dữ liệu địa chất.

Bản đồ địa chất, khoáng sản tỷ lệ 1:500.000 phần đất liền và các đảo được hoàn thành năm 1988. Bản đồ tỷ lệ 1:200.000 phần đất liền hoàn thành năm 1994. Đến nay, bản đồ tỷ lệ 1:50.000 đã phủ hơn 73% diện tích phần đất liền. Qua các chương trình điều tra, hơn 5.000 mỏ và điểm quặng đã được phát hiện.

Riêng Đề án điều tra tổng thể khoáng sản vùng Tây Bắc đã lập bản đồ địa chất, khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 trên diện tích 13.081 km², phát hiện và đánh giá tài nguyên 110 mỏ mới thuộc 25 loại khoáng sản. Trong số đó có 17 mỏ lớn và 62 diện tích đã được đưa vào Quy hoạch khoáng sản thời kỳ 2021 đến 2030.

Dữ liệu điều tra sau đó đi tiếp vào quy hoạch, cấp phép và quản lý khai thác. Tính đến ngày 8/12/2025, theo báo cáo của Cục, cơ quan này đã thẩm định và trình ban hành 356 quyết định liên quan đến hoạt động khoáng sản và đóng cửa mỏ. Trong đó có 54 giấy phép thăm dò, 138 giấy phép khai thác, 56 quyết định phê duyệt đề án đóng cửa mỏ và 108 quyết định đóng cửa mỏ.

Cùng thời gian, Cục trình ban hành 236 quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với tổng số tiền hơn 9.708 tỷ đồng và tổ chức đấu giá thành công quyền khai thác tại 10 khu vực khoáng sản.

Bởi vậy, giữ cho hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu vận hành liên tục sau ngày 15/9 là điều kiện để bộ máy mới không bị đứt mạch quản lý. Sau mỗi giấy phép là cả một chuỗi hồ sơ về mỏ, trữ lượng, quy hoạch, nghĩa vụ tài chính và quá trình khai thác. Sau mỗi tờ bản đồ địa chất là nhiều năm khảo sát, đo đạc và tích lũy dữ liệu ngoài thực địa.

Lịch sử quản lý tài nguyên lòng đất của Việt Nam đã được hình thành rất sớm…

Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng cuối năm Mậu Thân 1428, vua Lê Thái Tổ ra chỉ thị cho các phủ, huyện, trấn, lộ khám xét "các chằm bãi, ruộng đất, mỏ vàng bạc, những sản vật núi rừng trong hạt" rồi lập sổ trình lên triều đình. Một năm sau, tháng 7 năm Kỷ Dậu 1429, trong tờ chiếu bàn về quy chế đồng tiền, nhà vua nhắc đến thực tế nước ta có mỏ đồng. Tài nguyên trong lòng đất từ rất sớm đã được đặt trong mối quan hệ với quản lý quốc gia và đời sống kinh tế.

Đến thời Hồng Đức, quản lý mỏ đi sâu hơn vào thuế khóa và trật tự khai thác. Tháng 3 năm Giáp Thìn 1484, vua Lê Thánh Tông ra sắc chỉ quy định người khai đào mỏ bạc phải nộp thuế. Sang tháng 4, triều đình tiếp tục cấm những người giàu có ỷ thế quấy nhiễu các xưởng khai mỏ vàng bạc. Khai thác tài nguyên đã gắn với nghĩa vụ tài chính và kỷ cương tại nơi sản xuất.

Sang thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn dành quyển IV của Phủ biên tạp lục ghi khá kỹ các lệ thuế vàng, bạc, đồng, sắt ở Thuận Hóa và Quảng Nam. Qua những tư liệu dễ thấy 3 việc đã được đặt ra từ rất sớm: Nhà nước phải biết tài nguyên ở đâu và có bao nhiêu, hoạt động khai thác phải theo phép và nguồn lợi từ khoáng sản phải được quản lý bằng kỷ cương. 

Các chuyên gia Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đánh giá thực địa, khoanh vùng khu vực có tiềm năng khoáng sản.

Sau Cách mạng Tháng Tám, công tác địa chất nhanh chóng được tổ chức trong bộ máy Nhà nước mới. Ngày 2/10/1945, Nha Kỹ nghệ thuộc Bộ Quốc dân Kinh tế được thành lập. Đây cũng là mốc được ngành Địa chất Việt Nam lấy làm ngày truyền thống. Nha Kỹ nghệ sau đó được đổi tên thành Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt địa chất và khoáng sản trong bài toán kiến thiết đất nước. Người đặc biệt quan tâm đến việc điều tra, thăm dò tài nguyên khoáng sản để phục vụ công nghiệp hóa.

Ngày 23/7/1959 tại Baku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm khu khai thác dầu mỏ của Azerbaijan khi đó thuộc Liên Xô. Trao đổi với các nhà lãnh đạo và kỹ sư dầu khí, Người bày tỏ niềm tin Việt Nam có dầu và mong muốn sau này có thể tìm kiếm, khai thác, chế biến dầu, xây dựng ngành công nghiệp dầu khí của mình. 2 năm sau, năm 1961, tổ chức chuyên trách tìm kiếm, thăm dò dầu khí đầu tiên của Việt Nam được thành lập trong ngành địa chất.

Địa chất trong cũng không bó hẹp trong chuyện tìm và khai thác mỏ. Ngày 29/8/1958, tại cuộc họp bàn kế hoạch mở rộng Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ quy hoạch thành phố phải căn cứ vào "thiên thời", "địa lợi" và "nhân hòa". Phần "địa lợi" được Người nói cụ thể gồm địa chất, sông hồ. Đồng thời yêu cầu quy hoạch phải hợp lý về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, tránh cách làm đại khái gây lãng phí. 

Ngày 8/6/1959, tại Hội nghị toàn Đảng bộ Khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích hai chữ "núi bạc" bằng chính tiềm năng quặng của vùng. Nguồn khoáng sản đó có thể phục vụ xây dựng công nghiệp và phát triển kinh tế. Đây cũng là thời kỳ công cuộc xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên đang được chuẩn bị, đưa quặng trong lòng đất vào chuỗi sản xuất công nghiệp.

Hơn sáu thập kỷ trôi qua, câu hỏi đã đi xa hơn chuyện tìm thấy tài nguyên. Bài toán hiện nay là làm thế nào để khoáng sản sau khi được phát hiện có thể đi tiếp vào chế biến sâu, công nghệ cao và những chuỗi sản xuất tạo giá trị lớn hơn.

Ngày 21/5/2026, tại buổi làm việc về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định Việt Nam "không thiếu tài nguyên, không thiếu nhu cầu", điểm thiếu lớn nhất nằm ở công nghệ lõi, năng lực chế biến sâu, doanh nghiệp đầu đàn cùng hệ sinh thái nghiên cứu và thương mại hóa.

Người đứng đầu Đảng nhà Nhà nước yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng phải lãnh đạo rà soát tiềm năng, trữ lượng, hiện trạng khai thác, công nghệ chế biến, rủi ro môi trường và khả năng hình thành chuỗi giá trị đối với đất hiếm, bauxite, titan, vonfram, graphit, cát trắng, đá vôi và các khoáng sản quan trọng khác. Mục tiêu là không thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường; không để nguồn lực nằm im vì thiếu chính sách, công nghệ hoặc phối hợp. Đồng thời chuyển mạnh sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ và nâng giá trị gia tăng trong nước. 

Khoảng cách giữa tài nguyên và sản phẩm cuối cùng có thể nhìn khá rõ qua đất hiếm. PGS.TS Hoàng Anh Sơn - Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu cho biết, đến năm 2024 Việt Nam chưa có nhà máy chế biến tinh quặng đất hiếm trong nước thành sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu với hàm lượng tổng oxit đất hiếm tối thiểu 95%. Nhiều kết quả chế biến sâu mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm.

Ngày 28/5/2026, tại cuộc làm việc về dự thảo Chiến lược quốc gia về đất hiếm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu từng bước tự chủ hoàn toàn công nghệ khai thác, chế biến sâu đất hiếm và hình thành chuỗi hạ tầng công nghiệp đồng bộ gắn khai thác với chế biến và sử dụng.

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới sản xuất cũng đang bắt đầu được thử sức ở quy mô lớn hơn. Đầu tháng 9/2026, Hà Nội cho phép thử nghiệm có kiểm soát dây chuyền sản xuất tổng oxit đất hiếm hàm lượng trên 95% từ quặng Đông Pao ở quy mô bán công nghiệp. Dự án được thiết kế để kiểm chứng độ ổn định của công nghệ, hiệu quả sử dụng nguyên liệu, năng lượng và khả năng mở rộng lên quy mô công nghiệp.

Sau hơn hai thập kỷ, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã trở lại "mái nhà xưa", song cuộc trở lại lần này diễn ra trong một không gian quản lý đã đổi khác rất nhiều. Bộ Công Thương hiện nay phụ trách chuỗi lĩnh vực rộng, từ năng lượng, khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo đến thị trường trong nước và thương mại quốc tế. Địa chất và khoáng sản được đặt gần hơn với các ngành trực tiếp sử dụng tài nguyên làm đầu vào cho sản xuất.

Bộ máy đã được sắp xếp lại nhưng hiệu quả của mô hình mới còn phụ thuộc vào cách vận hành sau chuyển giao. Thông tin địa chất phải được kết nối với quy hoạch, quy hoạch phải bám sát nhu cầu nguyên liệu của công nghiệp. Các mỏ đã được phát hiện cần được đánh giá đầy đủ để đi tiếp tới khai thác hợp lý, chế biến sâu và tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Phần khó hơn vẫn nằm ở phía trước, kết quả điều tra phải trở thành căn cứ cho quyết định đầu tư. Tài nguyên phải đi được vào nhà máy, trữ lượng khoáng sản, bản đồ địa chất và hồ sơ quản lý phải phục vụ trực tiếp cho lựa chọn công nghệ, tổ chức sản xuất và phát triển chuỗi giá trị. Chỉ khi những mắt xích đó được nối với nhau bằng một cơ chế quản lý thông suốt, khoáng sản quốc gia mới thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển công nghiệp.

Lâm Vỹ Sơn - Chí Tâm - Hồng Thịnh