Đóng

Nâng cao chất lượng, định vị thương hiệu miến dong Cao Bằng

Từ đặc sản miền núi Cao Bằng, sản phẩm miến dong Tân Việt Á đang từng bước xây dựng thương hiệu bài bản, vươn ra thị trường trong và ngoài nước.

Tại tỉnh Cao Bằng, việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông sản đang được nhiều cơ sở sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đẩy mạnh. Đây được coi là giải pháp quan trọng để các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp khẳng định vị thế trên thị trường, tăng niềm tin nơi người tiêu dùng.

Từ thực tế đó, Hợp tác xã nông sản Tân Việt Á (xã Minh Tâm) nổi lên như một trường hợp điển hình cho quá trình nâng tầm thương hiệu sản phẩm miến dong của địa phương.

Xây thương hiệu từ chất lượng và bản sắc

Ngay từ những ngày đầu thành lập năm 2017, Hợp tác xã nông sản Tân Việt Á do ông Trần Đức Hiếu làm Giám đốc đã xác định: muốn đi xa, sản phẩm phải có thương hiệu. Và thương hiệu không chỉ là cái tên, mà là tổng hòa của chất lượng, hình ảnh và niềm tin người tiêu dùng.

Ông Trần Đức Hiếu, Giám đốc Hợp tác xã nông sản Tân Việt Á giới thiệu về sản phẩm miến dong do hợp tác xã sản xuất cho khách hàng. Ảnh: Phong Lâm

Miến dong Tân Việt Á vốn là sản phẩm truyền thống, gắn với điều kiện thổ nhưỡng đặc thù của vùng núi Cao Bằng. Ông Trần Đức Hiếu chia sẻ, để tăng sức cạnh tranh với thương hiệu khác, sản phẩm của hợp tác xã có sự đầu tư rõ rệt về mẫu mã, bao bì, quy trình sản xuất cũng như cách thức tổ chức.

Một trong những bước đi quan trọng giúp miến dong Tân Việt Á khẳng định vị thế chính là Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Năm 2020, sản phẩm của hợp tác xã đạt OCOP 3 sao và đến năm 2024 đã nâng hạng lên 4 sao cấp tỉnh. Đây không chỉ là sự ghi nhận về chất lượng, mà còn là “tấm vé thông hành” để sản phẩm bước vào các hệ thống phân phối lớn hơn.

Tuy nhiên, để xây dựng thương hiệu bền vững, OCOP chỉ là nền tảng. Hợp tác xã đã tập trung đồng bộ nhiều giải pháp: từ phát triển vùng nguyên liệu sạch, chuẩn hóa quy trình sản xuất, đến đầu tư bao bì, nhãn mác và đặc biệt là ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc.

Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp minh bạch thông tin sản phẩm mà còn tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về an toàn thực phẩm. Theo ông Hiếu, nếu không có hệ thống lưu trữ dữ liệu và truy xuất nguồn gốc, sản phẩm khó có thể đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe khi tiếp cận thị trường quốc tế.

Hiện nay, mỗi năm hợp tác xã cung ứng ra thị trường khoảng 30 - 40 tấn miến dong, phân phối chủ yếu qua các cửa hàng đặc sản và hệ thống siêu thị tại nhiều tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh. Việc duy trì sản lượng ổn định cùng hệ thống phân phối rộng khắp đã góp phần củng cố hình ảnh thương hiệu trên thị trường nội địa.

Đáng chú ý, đầu năm 2025, hợp tác xã đã xuất khẩu lô hàng đầu tiên gồm 4 tấn miến dong sang thị trường Mỹ thông qua đối tác tại TP. Hồ Chí Minh. Thành công này không chỉ mở ra cơ hội mới cho hợp tác xã mà còn góp phần nâng cao vị thế của miến rong Cao Bằng trên bản đồ nông sản Việt Nam. Từ một sản phẩm mang tính địa phương, miến dong đang dần trở thành đại diện tiêu biểu cho thương hiệu nông sản vùng cao của tỉnh Cao Bằng.

Bài toán nâng tầm thương hiệu, mở rộng thị trường

Song song với việc phát triển sản phẩm, hợp tác xã Tân Việt Á cũng tích cực quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường thông qua các kênh phân phối hiện đại. Bên cạnh hệ thống bán lẻ truyền thống, sản phẩm đã có mặt trên các nền tảng số như Facebook, Shopee và các sàn thương mại điện tử do địa phương hỗ trợ. Đây là bước đi phù hợp trong bối cảnh thương mại điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tiêu thụ nông sản.

Tuy nhiên, theo ông Trần Đức Hiếu, quá trình này cũng đặt ra không ít thách thức. Hợp tác xã hiện chưa có bộ phận chuyên trách về truyền thông, thương hiệu, marketing, trong khi kỹ năng bán hàng trên nền tảng số vẫn còn hạn chế.

Khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn vốn và năng lực quảng bá sản phẩm. Làm thế nào để đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng, đặc biệt trên các kênh truyền thông đại chúng, vẫn là khâu khiến chúng tôi gặp khó. Để sản xuất với quy mô lớn hơn, chúng tôi vẫn cần nguồn vốn để  tiếp tục đầu tư máy móc hiện đại, tối ưu hóa quy trình sản xuất”, ông Hiếu chia sẻ.

Sản phẩm miến dong của Hợp tác xã nông sản Tân Việt Á được trưng bày, giới thiệu tại một hội nghị. Ảnh: Phong Lâm

Cũng theo ông Hiếu, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng thương hiệu, tuy nhiên, hợp tác xã vẫn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ tích cực từ cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Sở Công Thương tỉnh Cao Bằng.

Nhờ vào sự giúp đỡ của Sở Công Thương tỉnh Cao Bằng, thông qua các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm và kết nối giao thương, sản phẩm của hợp tác xã đã có cơ hội tiếp cận nhiều thị trường trong và ngoài nước, trong đó có Trung Quốc và các nước châu Á.

Những hoạt động này không chỉ giúp quảng bá sản phẩm mà còn tạo điều kiện để hợp tác xã học hỏi, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để thương hiệu phát triển bền vững, sự chủ động từ phía doanh nghiệp vẫn là yếu tố quyết định”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Thực tế cũng cho thấy, những sản phẩm OCOP thành công đều là những sản phẩm biết kết hợp giữa chất lượng, bản sắc địa phương và chiến lược truyền thông hiệu quả. Từ việc chuẩn hóa bao bì, nhãn mác đến ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, tất cả đều nhằm tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng.

Đối với các hợp tác xã, việc đầu tư vào thương hiệu cần được thực hiện song song với phát triển sản xuất. Đồng thời, cần tận dụng tốt các chương trình hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt trong xúc tiến thương mại và chuyển đổi số, để mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.

Hành trình xây dựng thương hiệu của miến dong Tân Việt Á cho thấy, thương hiệu không chỉ giúp nhận diện sản phẩm mà còn tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng. Một sản phẩm có thương hiệu rõ ràng thường dễ tiếp cận thị trường hơn, có khả năng mở rộng kênh phân phối và gia tăng giá trị.

Phong Lâm