Đóng

Nâng tỷ lệ tận dụng FTA: Chìa khóa để doanh nghiệp tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Để doanh nghiệp tận dụng được các FTA và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giải pháp là chuyển từ cách làm chung chung sang nâng cấp theo đúng yêu cầu của thị trường và người mua.

Hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng FTA đúng trọng tâm, trọng điểm

Việt Nam đã ký kết và cơ bản kết thúc đàm phán 17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với trên 60 quốc gia, vùng lãnh thổ; đang đàm phán, chuẩn bị khởi động đàm phán 3 Hiệp định và 1 khung khổ kinh tế. Thời gian qua, việc thực thi các FTA đã mở ra cơ hội rất lớn cho Việt Nam trong mở rộng thị trường, tăng trưởng thương mại, xuất nhập khẩu và đầu tư, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam duy trì mức tăng trưởng cao từ 6-7%/năm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động xuất khẩu nói chung và việc tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định FTA nói riêng còn một số tồn tại, hạn chế. Hoạt động xuất khẩu tuy phục hồi tích cực nhưng chưa bền vững vì chịu ảnh hưởng mạnh từ các yếu tố bất ổn về chuỗi cung ứng và nhu cầu thị trường thế giới chưa phục hồi như kỳ vọng.

Việc thực thi các FTA, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam duy trì mức tăng trưởng cao từ 6-7%/năm.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên, trong đó hoạt động xuất nhập khẩu và tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) là một trong những động lực và chỉ tiêu chiến lược quan trọng. Đây cũng là một trong nhiều nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Công Thương trong chiến lược tái cơ cấu lĩnh vực xuất nhập khẩu của ngành đến năm 2030.

Theo đó, tại Quyết định số 165/QĐ-TTg của Chính phủ ban hành ngày 28/2/2023 về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030 đặt mục tiêu tăng cường hỗ trợ nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng các tiêu chuẩn, quy định của thị trường xuất khẩu, đáp ứng các quy tắc nguồn gốc xuất xứ để tận dụng có hiệu quả các FTA đã ký kết, gắn với nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp...

Liên quan đến nội dung này, dẫn số liệu từ Bộ Công Thương, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế - Đại học Kinh tế quốc dân cho biết, trong giai đoạn 10 năm (từ 2013-2022), mức tăng trưởng bình quân kim ngạch xuất khẩu có sử dụng ưu đãi thuế quan theo các FTA là 12,7%/năm, cao hơn mức tăng bình quân tổng kim ngạch xuất khẩu (12,5%/năm giai đoạn 2013-2022).

Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, từ năm 2026, Việt Nam cần nâng tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do từ khoảng 31% lên 40-45% vào năm 2030, đồng thời ký kết thêm các hiệp định mới, đa dạng hóa thị trường, hướng tới tăng trưởng thương mại bình quân ít nhất 15%/năm và đưa kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tận dụng FTA không chỉ dừng ở việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu hay hưởng ưu đãi thuế quan. Việc khai thác tốt hơn các cam kết FTA còn tạo động lực để doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường, qua đó từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.

Cùng quan điểm, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên, Bộ Công Thương cũng nhìn nhận, Việt Nam đã có mạng lưới FTA rộng, song tỷ lệ tận dụng ưu đãi tại một số FTA thế hệ mới vẫn còn khiêm tốn. Năm 2025, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan của CPTPP chưa đến 10%, EVFTA khoảng 34% và UKVFTA khoảng 38%. Con số này cho thấy, dư địa tăng trưởng không nằm ở việc có thêm bao nhiêu FTA mà còn ở khả năng doanh nghiệp chuyển những cam kết đã có thành đơn hàng cụ thể.

Ông Ngô Chung Khanh khuyến nghị, để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp nội địa cần chuyển từ vai trò cung ứng đơn giản sang từng bước làm chủ công nghệ, thiết kế, linh kiện, thương hiệu và các dịch vụ có giá trị cao hơn. Cách tiếp cận này đòi hỏi xúc tiến thương mại không chỉ dừng ở việc đưa doanh nghiệp đi tìm thị trường, mà phải đi sâu vào từng ngành hàng, từng nhóm sản phẩm và từng người mua.

Tương tự, Tiến sĩ Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho rằng, để doanh nghiệp tận dụng được các FTA và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp cần chuyển từ cách làm chung chung sang nâng cấp theo đúng yêu cầu của thị trường và người mua.

Theo đó, hỗ trợ phải đúng trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên các nhóm ngành hàng có tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam như: nông sản, điện tử, gỗ, dệt may, da giày... Với từng nhóm sản phẩm, doanh nghiệp đầu chuỗi cần xác định rõ tiêu chuẩn kỹ thuật, sản lượng, yêu cầu chất lượng và phương thức đánh giá nhà cung ứng.

“Hỗ trợ phải đi vào những khâu doanh nghiệp còn yếu như năng suất, độ chính xác, kiểm soát lỗi, thử nghiệm, truy xuất nguồn gốc và khả năng giao hàng đúng hạn. Không nên chỉ đo bằng số doanh nghiệp được hỗ trợ, mà cần đo bằng sản phẩm được chấp thuận và hợp đồng đã thực hiện”, Tiến sĩ Bùi Bá Nghiêm nêu quan điểm, đồng thời nhận định, khi doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, kiểm soát chất lượng và nguồn nguyên liệu, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ và các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường cũng được cải thiện. Khi đó, ưu đãi thuế quan từ FTA mới có thể chuyển thành lợi thế thực tế trong việc giành và giữ đơn hàng.

Nâng cao năng lực cạnh tranh, tái cấu trúc kế hoạch sản xuất, xuất khẩu

Từ góc độ địa phương, theo số liệu mới nhất của Bộ Công Thương, Hải Phòng là một trong những tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), với 35,62 điểm FTA Index năm 2025. Kết quả này cho thấy nỗ lực của thành phố trong đổi mới công tác chỉ đạo, nâng cao hiệu quả phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp và đưa việc thực thi các FTA ngày càng đi vào chiều sâu.

Phát biểu tại Lễ công bố Bộ chỉ số đánh giá kết quả thực hiện các hiệp định thương mại tự do của các địa phương năm 2025 (FTA Index 2025) hôm 18/8 vừa qua, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hoàng Minh Cường cho rằng, việc nằm trong top 5 FTA Index 2025 đặt ra trách nhiệm để thành phố Hải Phòng tiếp tục đổi mới, nâng cao khả năng tận dụng FTA của doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trao Bằng khen cho 5 tỉnh, thành phố có thành tích trong việc đánh giá kết quả thực hiện các FTA. Ảnh: Nam Nguyễn

Trong thời gian tới, thành phố cam kết tập trung thực hiện bốn nhóm nhiệm vụ. Trong đó, coi FTA Index là công cụ quản trị và cải cách, không chạy theo thứ hạng đơn thuần; phân tích từng chỉ số thành phần, xây dựng kế hoạch cải thiện hằng năm với mục tiêu, trách nhiệm, tiến độ cụ thể; phấn đấu giữ vững nhóm dẫn đầu và hướng tới nhóm 3 địa phương có kết quả FTA Index cao nhất cả nước.

Nâng cao chất lượng thông tin và năng lực tận dụng FTA đúng ngành hàng, thị trường; chú trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiếp tục cải cách thủ tục, số hóa quy trình, cấp C/O điện tử theo mô hình “5 tại chỗ”; duy trì đối thoại và cảnh báo sớm về quy tắc xuất xứ, phòng vệ thương mại, tiêu chuẩn mới; hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường, sản phẩm và chuỗi cung ứng...

“Với một thành phố có lợi thế về cảng biển, công nghiệp, logistics và kết nối quốc tế như Hải Phòng, việc nâng cao năng lực tận dụng FTA sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố quan trọng để mở rộng thị trường, nâng cao sức cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu”, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hoàng Minh Cường nhấn mạnh.

Cũng theo lãnh đạo Bộ Công Thương, Việt Nam tiếp tục là ưu tiên hàng đầu của các tập đoàn và nhà thu mua quốc tế khi tìm kiếm nguồn cung mới. Lợi thế này đến từ mạng lưới 17 FTA đã ký kết và thực thi, môi trường đầu tư ổn định, năng lực sản xuất cải thiện không ngừng và vị trí chiến lược tại trung tâm Đông Nam Á.

Tuy nhiên, việc tận dụng tốt hơn ưu đãi từ các FTA, sản xuất hàng hóa chất lượng hiện nay là chưa đủ để doanh nghiệp Việt Nam “bám rễ” sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh, tái cấu trúc kế hoạch sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng các rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe về tính bền vững cũng như truy xuất nguồn gốc, đồng thời nhanh nhạy nắm bắt thị hiếu người dùng để khai thác tối đa các phương thức kinh doanh và phân phối hiện đại.

Năm 2025, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan của CPTPP chưa đến 10%, EVFTA khoảng 34% và UKVFTA khoảng 38%. Con số này cho thấy, dư địa tăng trưởng không nằm ở việc có thêm bao nhiêu FTA mà còn ở khả năng doanh nghiệp chuyển những cam kết đã có thành đơn hàng cụ thể.

Hoàng Hòa