Đóng

Ngành cao su tăng tốc đáp ứng EUDR trước thời hạn 1/1/2027

Chỉ còn hơn 6 tháng trước khi EUDR có hiệu lực, ngành cao su đang đẩy nhanh hoàn thiện hướng dẫn tuân thủ, cơ sở dữ liệu và truy xuất nguồn gốc phục vụ xuất khẩu sang EU.

Xây dựng cơ sở dữ liệu, tháo gỡ nút thắt truy xuất nguồn gốc

Chiều 29/6, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) và Tổ chức Forest Trends tổ chức Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu Hướng dẫn tuân thủ Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cho ngành cao su Việt Nam.

Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu Hướng dẫn tuân thủ Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cho ngành cao su Việt Nam. Ảnh: Minh Phúc

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết sau ba năm kể từ khi EU ban hành quy định EUDR, Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động nhằm chuẩn bị thích ứng, từ tuyên truyền, phổ biến quy định đến đào tạo, tập huấn cho doanh nghiệp và địa phương.

Theo ông Mạnh, hai ngành hàng chịu tác động lớn nhất trong lĩnh vực trồng trọt là cà phê và cao su. Ngay từ khi EUDR được thông qua vào tháng 5/2023, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cùng nhiều đơn vị liên quan xây dựng các giải pháp thích ứng.

“Qua các cuộc làm việc với phía EU, có thể khẳng định EUDR sẽ chính thức được thực thi từ ngày 1/1/2027. Thời gian chuẩn bị không còn nhiều, vì vậy việc hoàn thiện tài liệu hướng dẫn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp và địa phương có căn cứ triển khai thống nhất”, ông Nguyễn Quốc Mạnh nhấn mạnh.

Theo ông Mạnh, dự thảo tài liệu đã được gửi lấy ý kiến các chuyên gia và địa phương trước khi đưa ra tham vấn rộng rãi tại hội thảo. Sau khi tiếp thu các góp ý, Cục sẽ tiếp tục hoàn thiện để ban hành chính thức. Trong giai đoạn từ nay đến cuối năm 2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật mong muốn tiếp tục nhận được ý kiến từ doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức quốc tế để hoàn thiện hướng dẫn, bảo đảm khi EUDR có hiệu lực, toàn ngành cao su có thể triển khai đồng bộ.

Tại Hội thảo, ông Tô Văn Huấn, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, theo EUDR, các sản phẩm như gỗ, cà phê, cao su, ca cao, dầu cọ, gia súc và nhiều sản phẩm phái sinh muốn vào thị trường EU phải đáp ứng ba yêu cầu cốt lõi gồm: không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020; được sản xuất hợp pháp theo pháp luật quốc gia; đồng thời có hồ sơ thẩm định trách nhiệm và khả năng truy xuất nguồn gốc đầy đủ.

Để đáp ứng các yêu cầu này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng khung thích ứng EUDR cho ba ngành hàng trọng điểm gồm cao su, cà phê và gỗ; đồng thời hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu vùng trồng, quy chế quản lý dữ liệu và nền tảng truy xuất nguồn gốc.

Hiện hệ thống dữ liệu phục vụ EUDR được xây dựng trên ba nền tảng gồm cơ sở dữ liệu ranh giới rừng, cơ sở dữ liệu vùng trồng và hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Mỗi vùng trồng sẽ được cấp mã truy xuất, tích hợp đầy đủ thông tin về chủ hộ, tọa độ, nhật ký sản xuất, đơn vị thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Theo kế hoạch, trong năm 2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ, các tổ chức quốc tế như GIZ, IDH, FAO, Forest Trends… hoàn thiện kế hoạch hành động quốc gia về thích ứng EUDR, mở rộng xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, đồng thời tăng cường tập huấn, truyền thông cho doanh nghiệp và người dân.

Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đối mặt nhiều khó khăn. Việt Nam hiện có hơn 900.000 ha cao su, trong đó trên 60% là cao su tiểu điền với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, gây nhiều trở ngại cho việc thu thập dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, việc chia sẻ dữ liệu giữa các cấp còn chưa đồng bộ; nhiều hộ sản xuất chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất, trong khi nhận thức về EUDR vẫn còn hạn chế.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, để đáp ứng lộ trình thực thi, cần sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu vùng trồng, ban hành tài liệu hướng dẫn chính thức, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ xác định tọa độ vùng trồng, xác minh chủ sử dụng đất và hướng dẫn người dân hoàn thiện hồ sơ.

Doanh nghiệp đã chủ động nhưng còn nhiều thách thức

Theo ông Võ Hoàng An, Tổng Thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam, ngành cao su đã chủ động tiếp cận EUDR từ rất sớm và đạt được nhiều kết quả tích cực. Đến năm 2025, diện tích cao su cả nước đạt khoảng 915.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 54% diện tích nhưng đóng góp hơn 62% sản lượng. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt khoảng 11,5 tỷ USD, trong đó thị trường EU đạt khoảng 772 triệu USD, tương đương 9,2% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Mặc dù thị trường EU chưa phải thị trường lớn đối với cao su thiên nhiên nhưng lại là thị trường quan trọng đối với các sản phẩm chế biến sâu như săm lốp, găng tay và các sản phẩm công nghiệp cao su. Vì vậy, việc đáp ứng EUDR không chỉ nhằm duy trì thị trường xuất khẩu mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành.

Hiệp hội đánh giá Việt Nam có lợi thế khi đã sớm thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên và chủ động xây dựng các kế hoạch thích ứng. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là khu vực cao su tiểu điền với quy mô sản xuất phân tán, gây khó khăn cho truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện hồ sơ pháp lý.

Trong khi đó, ông Diệp Xuân Trường - Phó trưởng ban Công nghiệp, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) cho biết, các đơn vị thành viên đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đáp ứng EUDR. Đến tháng 6/2026, khoảng 305.000 ha, tương đương 81% diện tích cao su do Tập đoàn quản lý, đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu của EUDR; 23 đơn vị được khách hàng châu Âu công nhận đáp ứng quy định này.

Với VRG, theo tính toán sơ bộ, việc đáp ứng quy định EUDR giúp giá bán cao su tăng thêm khoảng 150-250 USD/tấn, mang lại giá trị gia tăng khoảng 70-80 tỷ đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cho rằng việc mở rộng tuân thủ sang khu vực cao su tiểu điền còn gặp nhiều trở ngại do người dân thiếu hồ sơ pháp lý, thiếu thông tin định vị vùng trồng và chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu của thị trường.

Tại Hội thảo, các chuyên gia nhận định, để quy định EUDR không trở thành rào cản thương mại mà trở thành động lực nâng cao giá trị ngành hàng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hiệp hội và người sản xuất trong xây dựng cơ sở dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện chuỗi cung ứng. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để ngành cao su Việt Nam duy trì và mở rộng thị phần tại thị trường EU trong giai đoạn tới.

Xây dựng cơ sở dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện hướng dẫn tuân thủ được xem là "chìa khóa" giúp ngành cao su đáp ứng EUDR, giữ vững cơ hội tại thị trường EU.

Nguyễn Hạnh