Đóng

Ngành cơ khí Việt Nam: Cần một chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 3: Từ nội địa hóa đến tự chủ công nghệ

Dù đã đạt tiến bộ trong nhiều công đoạn gia công, chế tạo, ngành cơ khí vẫn gặp hạn chế ở thiết kế tổng thể, phát triển công nghệ và quản lý các dự án công nghiệp phức tạp.

(Công Thương) - Một sản phẩm cơ khí có thể sử dụng phần lớn linh kiện sản xuất trong nước nhưng thiết kế tổng thể, phần mềm điều khiển và quyền quyết định công nghệ vẫn thuộc về đối tác nước ngoài. Thực tế này đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm phát triển ngành cơ khí từ nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sang làm chủ thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống, từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.

Trong nhiều năm, tỷ lệ nội địa hóa được sử dụng như một thước đo quan trọng để đánh giá sự phát triển của ngành cơ khí. Tuy nhiên, năng lực chế tạo và tỷ lệ nội địa hóa tăng lên chưa đồng nghĩa với khả năng tự chủ về thiết kế, công nghệ và tích hợp hệ thống. Dù đã đạt tiến bộ trong nhiều công đoạn gia công, chế tạo, ngành cơ khí vẫn gặp hạn chế ở thiết kế tổng thể, phát triển công nghệ và quản lý các dự án công nghiệp phức tạp.

Dự thảo Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đề xuất đưa tỷ lệ làm chủ thiết kế, chế tạo thành một chỉ tiêu quan trọng, bên cạnh tỷ lệ nội địa hóa và tỷ lệ giá trị tăng thêm. Đây là bước điều chỉnh trong cách tiếp cận phát triển ngành. Tuy nhiên, giá trị của những chỉ tiêu mới phụ thuộc vào phương pháp đo lường, khả năng kiểm chứng năng lực công nghệ qua từng dự án và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định định hướng "từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược". Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới, tiến tới tự chủ và cạnh tranh về công nghệ trong những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế.

Đối với ngành cơ khí, định hướng này đặt ra yêu cầu chuyển năng lực sản xuất thành năng lực làm chủ công nghệ. TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí đánh giá trình độ phát triển của ngành cơ khí phản ánh năng lực tự chủ công nghệ và khả năng làm chủ đầu tư các dự án lớn của một quốc gia.

Theo ông, phát triển cơ khí là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, bởi các ngành năng lượng, giao thông vận tải, khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo và quốc phòng đều phụ thuộc trực tiếp vào năng lực thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống thiết bị.

Ở góc độ này, tự chủ công nghệ không đồng nghĩa với việc tự sản xuất mọi thiết bị hay hạn chế hợp tác quốc tế. Vấn đề quyết định là khả năng tiếp nhận, hấp thụ và phát triển công nghệ thành năng lực của doanh nghiệp trong nước. Sau mỗi dự án lớn, doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước đảm nhận được những công đoạn kỹ thuật phức tạp hơn, tiến tới làm chủ thiết kế tổng thể và tích hợp hệ thống.

Đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 theo Quyết định số 319/QĐ-TTg, TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí nhận định tỷ lệ nội địa hóa vẫn là chỉ tiêu quan trọng nhưng chưa phản ánh đầy đủ năng lực tự chủ công nghệ. Một sản phẩm có tỷ lệ chi phí sản xuất trong nước cao vẫn có thể phụ thuộc vào bản vẽ thiết kế, phần mềm, bộ điều khiển và quyền sở hữu công nghệ của đối tác nước ngoài.

Theo TS. Vũ Văn Khoa, chiến lược phát triển ngành cơ khí trong giai đoạn mới nên chuyển trọng tâm từ nội địa hóa đơn thuần sang nâng cao năng lực tự chủ thiết kế, công nghệ chế tạo và tích hợp hệ thống. Để đánh giá thực chất trình độ của doanh nghiệp, ông đề xuất phân chia năng lực tự chủ thành 3 cấp độ, tương ứng với mức độ tham gia và kiểm soát các công đoạn công nghệ.

Đối chiếu với thực trạng ngành cơ khí, TS. Vũ Văn Khoa đánh giá phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chủ yếu chế tạo theo thiết kế có sẵn, tương ứng cấp độ đầu tiên. Một số doanh nghiệp lớn và viện nghiên cứu đã nâng cao năng lực gia công CNC, hàn tự động, thiết kế 3D, mô phỏng và tích hợp robot. Tuy nhiên, năng lực thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản lý vòng đời sản phẩm hoàn chỉnh mới hình thành ở một số đơn vị đầu ngành trong những lĩnh vực nhất định.

Khác biệt giữa các cấp độ tự chủ nằm ở khả năng làm chủ thiết kế và kiểm soát công nghệ thay vì chỉ ở trình độ máy móc, thiết bị. Doanh nghiệp có thể sở hữu dây chuyền gia công hiện đại nhưng vẫn phụ thuộc vào bản vẽ và giải pháp kỹ thuật của đối tác. Năng lực tự chủ được đánh giá qua khả năng thiết kế, lựa chọn giải pháp công nghệ, tổ chức chế tạo, tích hợp hệ thống và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả vận hành của sản phẩm hoặc hệ thống thiết bị.

Từ cách tiếp cận này, TS. Vũ Văn Khoa đề xuất lộ trình nâng cấp năng lực công nghệ theo từng giai đoạn. Đến năm 2030, tập trung làm chủ thiết kế chi tiết và một số hệ thống thiết bị. Đến năm 2035, hướng tới làm chủ thiết kế tổng thể những hệ thống được lựa chọn. Tầm nhìn năm 2045 đặt ra yêu cầu làm chủ toàn bộ vòng đời sản phẩm trong các lĩnh vực có lợi thế.

Điều quan trọng là năng lực tự chủ được xác nhận bằng sản phẩm và dự án thực tế đã nghiệm thu. Hồ sơ giới thiệu năng lực, số lượng thiết bị hiện đại hay các hợp đồng chuyển giao công nghệ chưa đủ để chứng minh doanh nghiệp đã làm chủ những công đoạn kỹ thuật phức tạp.

 

Năng lực thiết kế tổng thể và đảm nhận vai trò tổng thầu đang là hạn chế lớn trong quá trình phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược năm 2018, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí Phan Đăng Phong xác định mục tiêu hình thành năng lực thiết kế, chế tạo và vai trò tổng thầu là nhóm có kết quả thực hiện thấp nhất. Dù một số doanh nghiệp đã tham gia các dự án công nghiệp quy mô lớn, số đơn vị đủ khả năng đảm nhận trọn gói thiết kế, chế tạo và tích hợp những hệ thống thiết bị phức tạp vẫn còn hạn chế.

Thực tiễn đã ghi nhận những bước tiến của doanh nghiệp cơ khí trong nước. LILAMA tích lũy năng lực quản lý và thực hiện các dự án EPC trong lĩnh vực năng lượng. Tại dự án điện khí Nhơn Trạch 3 và 4, doanh nghiệp tham gia liên danh tổng thầu EPC cùng Samsung C&T. PV Shipyard đảm nhận các công việc thiết kế chi tiết, chế tạo và tổng thầu giàn khoan tự nâng Tam Đảo 03, Tam Đảo 05. PTSC phát triển năng lực chế tạo kết cấu, lắp đặt và cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho các công trình biển.

Giàn Tam Đảo 05 và Tam Đảo 03 ở mỏ Bạch Hổ. Từ khâu thiết kế, chế tạo, lắp ráp đến hạ thủy, toàn bộ đều do đội ngũ kỹ sư, công nhân Công ty Cổ phần Chế tạo Giàn khoan Dầu khí (PV Shipyard) và các đơn vị trong ngành đảm nhiệm, với sự hỗ trợ tư vấn công nghệ từ đối tác quốc tế.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Doosan Vina đã hình thành năng lực chế tạo thiết bị công nghiệp quy mô lớn tại Việt Nam, góp phần phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật và chuỗi cung ứng cơ khí.

Tuy nhiên, năng lực thực hiện dự án không đồng nghĩa với việc làm chủ toàn bộ công nghệ. Các dự án công nghiệp lớn vẫn sử dụng nhiều thiết kế, thiết bị công nghệ chính và giải pháp kỹ thuật của nhà cung cấp nước ngoài. Doanh nghiệp trong nước có thể đảm nhận những hạng mục quan trọng nhưng chưa nắm toàn bộ quyền thiết kế, tích hợp và quyết định công nghệ đối với hệ thống hoàn chỉnh.

Theo TS. Vũ Văn Khoa, hạn chế về thiết kế tổng thể và tích hợp hệ thống xuất phát từ nhiều yếu tố, trong đó có sự thiếu hụt đội ngũ tổng công trình sư, dữ liệu thiết kế, phần mềm chuyên dụng, năng lực mô phỏng, thử nghiệm và kinh nghiệm quản lý các dự án công nghiệp phức tạp.

Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao của doanh nghiệp Việt Nam. Trong nhiều dự án công nghiệp, năng lượng và hạ tầng quy mô lớn, doanh nghiệp trong nước vẫn tập trung vào gia công kết cấu, thi công, lắp đặt hoặc cung cấp một phần thiết bị phụ trợ, trong khi các hệ thống công nghệ chính và khâu tích hợp tổng thể phụ thuộc nhiều vào nhà thầu nước ngoài.

Lĩnh vực đường sắt đô thị phản ánh rõ khoảng cách đó, tại các dự án đã triển khai ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, nhiều gói thầu thiết bị và hệ thống công nghệ quan trọng do các nhà thầu quốc tế đảm nhận. Năng lực chế tạo đoàn tàu, thiết bị tín hiệu, điều khiển và tích hợp hệ thống đường sắt của doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế.

Dự án Nhà máy Sản xuất Ray và Thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất có công suất thiết kế 700.000 tấn/năm, tổng vốn đầu tư hơn 10.000 tỷ.

Những chuyển động mới đang mở ra cơ hội tham gia sâu hơn cho doanh nghiệp Việt Nam. Tại TP. Hồ Chí Minh, THACO tham gia liên danh tổng thầu EPC cùng Tập đoàn Đường sắt Trung Quốc thực hiện tuyến metro số 2 Bến Thành, Tham Lương. Đối với dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội, Quảng Ninh, VinSpeed đã được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư vào ngày 30/1/2026.

Ở lĩnh vực vật liệu, Hòa Phát đang triển khai Nhà máy sản xuất ray và thép đặc biệt tại Dung Quất với công suất thiết kế 700.000 tấn/năm, sử dụng dây chuyền công nghệ của SMS group (Đức). Đến tháng 9/2026, dự án hoàn thành gần 70% tiến độ, dự kiến có sản phẩm ray đường sắt đầu tiên trong quý I/2027.

Những dự án này mở ra dư địa phát triển cho cơ khí trong nước nhưng kết quả tham gia dự án còn phải được đánh giá qua phần việc thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và công nghệ mà doanh nghiệp Việt Nam thực sự nắm giữ.

Khoảng cách về trình độ giữa các phân ngành cũng được phản ánh trong bộ số liệu nền phục vụ xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Đơn cử, trong ngành xe máy, tỷ lệ nội địa hóa đạt 75%, còn tỷ lệ tự chủ thiết kế, chế tạo được ước tính ở mức 90%. Ngược lại, các lĩnh vực điện gió ngoài khơi, đường sắt đô thị và điện khí LNG có tỷ lệ giá trị tăng thêm trên giá trị sản xuất chỉ khoảng 15-18%.

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045).

Các tỷ lệ tham chiếu phản ánh khoảng cách về năng lực sản xuất, trình độ phát triển chuỗi cung ứng và khả năng làm chủ công nghệ giữa các phân ngành. Tuy nhiên, bộ số liệu chưa được kiểm chứng đầy đủ về phương pháp thống kê và phạm vi đo lường, nên chưa đủ cơ sở để đánh giá chính xác mức độ chênh lệch.

Đặc biệt, tỷ lệ tự chủ thiết kế, chế tạo cao chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp thuộc sở hữu Việt Nam nắm giữ quyền công nghệ tương ứng. Trong ngành xe máy, nhiều hoạt động thiết kế sản phẩm và công nghệ quan trọng vẫn thuộc các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, việc xác định rõ chủ thể thực sự nắm giữ công nghệ có ý nghĩa quyết định đối với độ tin cậy của chỉ tiêu.

Khoảng trống giữa quy mô sản xuất và năng lực tự chủ đang đặt ra yêu cầu mới đối với chiến lược phát triển ngành cơ khí. Vấn đề vượt ra ngoài mục tiêu gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, hướng tới nâng cao khả năng đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng cao và quyền làm chủ các hệ thống công nghệ phức tạp.

Dự thảo Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đề xuất điều chỉnh cách đánh giá năng lực phát triển ngành với 3 chỉ tiêu quan trọng gồm tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ làm chủ thiết kế, chế tạo và tỷ lệ giá trị tăng thêm trên giá trị sản xuất.

Trong đó, tỷ lệ làm chủ thiết kế, chế tạo được xác định là tỷ lệ giá trị các công đoạn nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, kiểm định và làm chủ công nghệ do các tổ chức, doanh nghiệp trong nước thực hiện trên tổng giá trị của sản phẩm hoặc hệ thống thiết bị cơ khí.

Cách tiếp cận này mở rộng phạm vi đánh giá năng lực ngành cơ khí. Một doanh nghiệp có thể sử dụng linh kiện nhập khẩu nhưng vẫn tạo ra giá trị thông qua thiết kế, tích hợp và phát triển giải pháp công nghệ. Ngược lại, tỷ lệ nội địa hóa cao chưa bảo đảm doanh nghiệp nắm giữ quyền thiết kế và làm chủ những công nghệ quan trọng của sản phẩm.

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, Viện Nghiên cứu Cơ khí).

Việc bổ sung chỉ tiêu làm chủ thiết kế, chế tạo phản ánh sự thay đổi trong tư duy phát triển ngành cơ khí. Năng lực công nghiệp được xem xét sâu hơn ở khả năng nghiên cứu, thiết kế và tích hợp những hệ thống thiết bị phức tạp, thay vì chỉ đo lường phần giá trị sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, 3 chỉ tiêu phản ánh những khía cạnh khác nhau của hoạt động sản xuất, đòi hỏi xác định rõ phạm vi thống kê, phương pháp tính và nguồn dữ liệu để bảo đảm tính chính xác. Đặc biệt, việc đánh giá tỷ lệ làm chủ thiết kế, chế tạo phải phân biệt giữa năng lực công nghệ được thực hiện tại Việt Nam với quyền thiết kế, kiểm soát và làm chủ công nghệ thực sự thuộc doanh nghiệp Việt Nam.

Điểm đáng bàn là dự thảo đặt mục tiêu tỷ lệ làm chủ thiết kế, chế tạo đến năm 2030 ở mức khoảng 45%, bằng giá trị nền tham chiếu giai đoạn 2021-2025, trong khi tỷ lệ nội địa hóa và tỷ lệ giá trị tăng thêm trên giá trị sản xuất đều được đề xuất tăng.

Một chỉ tiêu được xác định là trọng tâm của chiến lược mới nhưng chưa đặt ra mức tăng trong giai đoạn đầu đặt ra câu hỏi về cơ sở xây dựng mục tiêu. Mốc 45% phản ánh đánh giá thận trọng về năng lực công nghệ của ngành hay xuất phát từ những hạn chế trong phương pháp đo lường và xác lập đường cơ sở thống kê? Dù theo cách tiếp cận nào, dự thảo cũng phải làm rõ những kết quả cụ thể về thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống dự kiến đạt được vào năm 2030, cùng phương pháp kiểm chứng mức độ hoàn thành.

Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, dự thảo còn đề xuất mục tiêu phát triển lực lượng doanh nghiệp cơ khí trong nước. Đến năm 2030, triển khai ít nhất 5 chương trình, dự án mẫu về chuyển giao công nghệ, thiết kế và tích hợp hệ thống trong các lĩnh vực đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng, sản xuất alumin, điện phân nhôm và điện gió.

Đến năm 2035, hình thành khoảng 500 doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, trong đó có 3 đến 5 doanh nghiệp đủ khả năng tham gia với vai trò tổng thầu hoặc nhà tích hợp hệ thống. Tầm nhìn đến năm 2045, phát triển khoảng 1.200 doanh nghiệp cơ khí nòng cốt, trong đó có 5 đến 7 tập đoàn, doanh nghiệp quy mô lớn đạt trình độ khu vực.

Những mục tiêu này đặt ra yêu cầu xác định rõ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp nòng cốt, năng lực tổng thầu và mức độ tự chủ công nghệ. Số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ hay số dự án triển khai sẽ chưa đủ phản ánh kết quả nếu thiếu bằng chứng về những sản phẩm, hệ thống thiết bị và công nghệ mà doanh nghiệp thực sự làm chủ.

Từ yêu cầu đó, TS. Vũ Văn Khoa đề xuất áp dụng cơ chế "3 dự án đầu tiên" đối với một số lĩnh vực cơ khí mới, gắn quá trình chuyển giao công nghệ với lộ trình nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Theo đó ở dự án đầu tiên, doanh nghiệp Việt Nam tập trung tiếp nhận thiết kế và công nghệ. Sang dự án thứ 2, tỷ lệ công việc và vai trò tích hợp hệ thống của doanh nghiệp trong nước được nâng lên. Từ dự án thứ 3, doanh nghiệp được giao nhiệm vụ hướng tới cơ bản tự chủ thiết kế, chế tạo và tích hợp đối với những hạng mục thiết bị đã xác định.

Điểm quan trọng của cơ chế này là quá trình tiếp nhận công nghệ được gắn với nhiệm vụ cụ thể và kết quả đầu ra của từng dự án. Theo TS. Vũ Văn Khoa, việc triển khai phải đi cùng cơ chế đánh giá độc lập, xác định rõ trách nhiệm và bằng chứng về năng lực công nghệ mà doanh nghiệp đạt được.

Thực tiễn phát triển cơ khí thủy công đã ghi nhận kinh nghiệm nâng cao năng lực thông qua các công trình lớn. Tại dự án thủy điện A Vương và sau đó là Sơn La, Lai Châu, Viện Nghiên cứu Cơ khí cùng các doanh nghiệp trong nước từng bước tích lũy năng lực thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống thiết bị cơ khí thủy công.

Tuy nhiên, kinh nghiệm cơ khí thủy công không đồng nghĩa mọi lĩnh vực đều có thể tự chủ sau đúng 3 dự án. Mức độ phức tạp của công nghệ, điều kiện chuyển giao, khả năng tiếp nhận của doanh nghiệp và yêu cầu thử nghiệm, chứng nhận ở từng ngành có sự khác biệt lớn.

Đối với đường sắt đô thị, điện gió ngoài khơi, sản xuất alumin và điện phân nhôm, cơ chế 3 dự án đầu tiên có thể trở thành hướng nghiên cứu chính sách. Khả năng áp dụng phụ thuộc vào việc xác định danh mục thiết bị ưu tiên, tổ chức các gói thầu phù hợp, phân định trách nhiệm chuyển giao công nghệ và xây dựng tiêu chí nghiệm thu năng lực sau từng dự án.

Quan trọng hơn, mục tiêu làm chủ công nghệ phải được đặt ra ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Nếu doanh nghiệp Việt Nam chỉ được tham gia những công đoạn gia công, lắp đặt đơn giản, các dự án lớn dù triển khai liên tiếp cũng khó tạo ra bước chuyển về năng lực thiết kế và tích hợp hệ thống.

 

Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Nhật Bản cho thấy, nhập khẩu công nghệ có thể trở thành động lực nâng cao năng lực tự chủ nếu được đặt trong chiến lược công nghiệp có mục tiêu và cơ chế thực hiện rõ ràng.

Theo nghiên cứu công bố năm 2016 của Viện Nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (RIETI), trong giai đoạn tài khóa 1952-1960, Nhật Bản phê duyệt 1.265 hợp đồng nhập công nghệ thuộc nhóm có thời hạn hợp đồng hoặc thanh toán từ một năm trở lên và thanh toán bằng ngoại tệ. Trong đó, 806 hợp đồng được ký với đối tác Mỹ, chiếm 63,7%; 117 hợp đồng với Tây Đức, chiếm 9,3% và 78 hợp đồng với Thụy Sĩ, chiếm 6,2%.

Hoạt động tiếp nhận công nghệ tiếp tục mở rộng trong những năm sau đó. Từ năm 1968, số hợp đồng nhập công nghệ vượt 1.000 mỗi năm, khoảng một nửa liên quan đến ngành cơ khí.

Điểm quan trọng trong chính sách công nghiệp Nhật Bản thời kỳ này là lựa chọn công nghệ gắn với yêu cầu hiện đại hóa sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Thông qua cơ chế thẩm định kỹ thuật và tài chính, các chương trình hỗ trợ hướng nguồn lực vào những doanh nghiệp, thiết bị và công nghệ có khả năng cải thiện năng suất, chất lượng và chi phí sản xuất.

Kết quả phát triển của ngành cơ khí Nhật Bản còn gắn với chính sách phát triển công nghiệp vật liệu, năng lượng và mạng lưới doanh nghiệp cung ứng linh kiện. Nhập công nghệ là một phần trong quá trình tích lũy năng lực sản xuất, từng bước nâng cao khả năng thiết kế, chế tạo và sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp.

Nếu Nhật Bản cung cấp kinh nghiệm về lựa chọn và tiếp nhận công nghệ, Trung Quốc đặt ra góc nhìn khác về đánh giá kết quả phát triển công nghiệp thông qua khả năng cạnh tranh của nhà sản xuất trong nước.

Theo báo cáo World Robotics 2026 được Liên đoàn Robot Quốc tế (IFR) công bố ngày 24/9/2026, Trung Quốc lắp đặt khoảng 354.000 robot công nghiệp trong năm 2025, tăng 20% so với năm trước và chiếm 59% tổng lượng robot công nghiệp lắp đặt mới trên toàn cầu.

Trong đó, các nhà sản xuất Trung Quốc cung ứng khoảng 195.000 robot, chiếm 55% lượng lắp đặt mới tại thị trường nội địa. Tỷ lệ này thấp hơn mức 57% năm 2024 nhưng vẫn duy trì vị thế lớn hơn các nhà cung cấp nước ngoài. Trước đó, năm 2023, thị phần của các nhà sản xuất Trung Quốc đạt 47%.

Thay đổi thị phần qua từng năm phản ánh mức độ cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài ngay tại thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, thị phần mới là một thước đo về khả năng cung ứng và sức cạnh tranh; năng lực tự chủ công nghệ còn phụ thuộc vào khả năng thiết kế, phát triển phần mềm điều khiển, sản xuất linh kiện quan trọng và tích hợp những hệ thống có độ phức tạp cao.

Hai kinh nghiệm quốc tế đặt ra những vấn đề có ý nghĩa đối với chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Nhập khẩu công nghệ có thể rút ngắn quá trình tích lũy năng lực công nghiệp nhưng hiệu quả cuối cùng được quyết định bởi khả năng tiếp nhận, cải tiến và phát triển công nghệ của doanh nghiệp. Đồng thời, mục tiêu tự chủ phải được kiểm chứng bằng sản phẩm thực tế, năng lực cạnh tranh và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.

Sau 7 năm thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí Việt Nam đã mở rộng quy mô sản xuất và tích lũy năng lực chế tạo trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, khả năng đảm nhận thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống và cung cấp giải pháp công nghệ trọn gói vẫn chưa tương xứng với nhu cầu phát triển công nghiệp.

Chiến lược mới đứng trước yêu cầu tạo chuyển biến thực chất về vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị. Điều quyết định không nằm ở số lượng dự án được tham gia hay tỷ lệ nội địa hóa đơn thuần mà ở những công nghệ, hệ thống thiết bị và quyền thiết kế doanh nghiệp thực sự nắm giữ sau mỗi dự án.

Muốn tiến lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao, cơ khí Việt Nam phải từng bước làm chủ nền tảng công nghệ của chính ngành mình, đặc biệt là máy công cụ, robot công nghiệp và linh kiện quan trọng. Đây là những năng lực quyết định khả năng thiết kế, chế tạo và nâng cấp hệ thống thiết bị.

Tự chủ công nghệ không bắt đầu từ việc làm ra bao nhiêu sản phẩm mà từ khả năng tự thiết kế, tự chế tạo và quyết định công nghệ của những sản phẩm đó. Đó cũng là nền tảng để ngành cơ khí Việt Nam chuyển từ vị trí tham gia sản xuất sang làm chủ những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi công nghiệp.

>>> Kỳ 4: Tự chủ máy cái, robot: Nền móng của công nghiệp cơ khí

Lâm Vỹ Sơn - Nguyên Thảo