Đóng

Nghị quyết 68-NQ/TW vào cuộc sống: Bài cuối - Để chính sách không dừng ở kỳ vọng

Khi được trao cơ chế phù hợp, môi trường cạnh tranh minh bạch, khu vực kinh tế tư nhân hoàn toàn có thể trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng.

Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) xung quanh vấn đề này.

Kinh tế tư nhân phải được đặt ở vị trí trụ cột

- Thưa ông, Đại hội Đảng XIV vừa qua, yêu cầu nâng cao năng lực quản trị quốc gia và đổi mới mô hình tăng trưởng trên cơ sở chất lượng thể chế được nhấn mạnh. Trong đó, Nghị quyết 68-NQ/TW được xác định là trụ cột cải cách thể chế. Ông đánh giá như thế nào về chủ trương này?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, xác định Nghị quyết 68-NQ/TW là một trụ cột cải cách thể chế là hoàn toàn đúng đắn và thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Khi đã coi đây là trụ cột, đồng nghĩa thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân không chỉ như một đối tượng được hỗ trợ mà là nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới.

Nếu chỉ xem đây là một chính sách khuyến khích, vai trò của kinh tế tư nhân sẽ luôn ở vị trí bổ trợ. Nhưng khi đặt ở vị trí trụ cột, khu vực này trở thành yếu tố nền tảng, có ý nghĩa lâu dài đối với năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của quốc gia.

Chính phủ tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực. Ảnh minh họa

Thực tế trên thế giới cho thấy, phần lớn các tập đoàn lớn, kể cả trong những lĩnh vực công nghệ cao, đều thuộc khu vực tư nhân. Điều quan trọng không phải là thành phần kinh tế nào, mà là hiệu quả và năng lực thực hiện. Nếu doanh nghiệp tư nhân có đủ năng lực thì hoàn toàn có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực, kể cả những ngành đòi hỏi tiêu chuẩn công nghệ cao.

Việc coi Nghị quyết 68-NQ/TW là trụ cột cải cách thể chế vì vậy thể hiện một bước tiến về tư duy phát triển, tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát huy tối đa tiềm năng và đóng góp mạnh mẽ hơn cho tăng trưởng cũng như hội nhập quốc tế.

- Theo ông, việc hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân cần được triển khai như thế nào để đạt hiệu quả thực chất?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Không nên tiếp cận theo các tỷ lệ cứng áp dụng đồng loạt cho mọi địa phương, chẳng hạn như quy định một tỷ lệ đất đai nhất định dành cho kinh tế tư nhân. Cách làm này có thể bảo đảm sự đồng đều nhưng chưa chắc đã tối ưu về hiệu quả.

Quan trọng nhất phải là hiệu quả sử dụng nguồn lực. Địa phương nào có lợi thế và có khu vực tư nhân phát triển năng động thì nên được trao cơ chế linh hoạt hơn. Khi đó, tỷ lệ nguồn lực dành cho khu vực tư nhân hoàn toàn có thể cao hơn nếu điều kiện thực tế cho phép.

Ngược lại, ở những địa bàn còn khó khăn, nơi khu vực kinh tế nhà nước vẫn cần đóng vai trò dẫn dắt để bảo đảm ổn định, cơ cấu phân bổ nguồn lực có thể khác. Điều cốt lõi là cần cơ chế phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương thay vì áp dụng một mô hình chung.

Cơ chế linh hoạt cũng cần được mở rộng sang các lĩnh vực như phân bổ vốn, lựa chọn dự án hay khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia vào những ngành mới như công nghệ cao, chuyển đổi số hoặc bán dẫn.

Theo tôi, vấn đề hiện nay không phải là không huy động khu vực kinh tế tư nhân, mà là chưa huy động hết tiềm năng của khu vực này. Nếu Nghị quyết 68 được triển khai đúng tinh thần cải cách thể chế, kinh tế tư nhân hoàn toàn có thể vươn tới những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao và đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế.

Giao “việc lớn, việc khó” để doanh nghiệp tư nhân trưởng thành

- Một số doanh nghiệp cho rằng, cần thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá và quy trách nhiệm cụ thể để bảo đảm Nghị quyết 68 được triển khai nhất quán từ Trung ương đến địa phương. Ông nhìn nhận đề xuất này như thế nào?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Tôi cho rằng, yêu cầu này là hoàn toàn xác đáng. Khi Nghị quyết 68-NQ/TW được xác định là trụ cột cải cách thể chế, bộ máy thực thi cũng phải vận hành theo cách khoa học và minh bạch hơn.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân)

Mỗi cơ quan, mỗi vị trí cần có trách nhiệm rõ ràng: ai phụ trách việc gì, mục tiêu ra sao và thời hạn thực hiện thế nào. Khi trách nhiệm được phân định cụ thể, việc giải trình và đánh giá hiệu quả cũng sẽ rõ ràng hơn.

Có thể áp dụng các nguyên tắc quản trị hiện đại - SMART, tức là mục tiêu phải cụ thể, đo lường được, khả thi, thực tế và có thời hạn. Khi đó, hiệu quả công việc sẽ được đánh giá bằng kết quả thực chất thay vì các báo cáo hình thức.

Bên cạnh đó, quản lý hành chính công cũng cần được tinh gọn và hiện đại hóa, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả vận hành.

- Thủ tướng cũng đã nêu định hướng giao những nhiệm vụ lớn và các dự án đột phá cho khu vực doanh nghiệp tư nhân. Ông đánh giá thế nào về chủ trương này?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Đây là tín hiệu rất tích cực. Doanh nghiệp chỉ thực sự trưởng thành khi được tham gia vào những dự án có quy mô lớn, đòi hỏi công nghệ cao và nguồn lực mạnh. Nếu chỉ giới hạn trong những phần việc nhỏ hoặc mang tính phụ trợ, rất khó hình thành các tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Tuy nhiên, việc giao các dự án lớn cần được thực hiện trên cơ sở cạnh tranh minh bạch. Ở nhiều quốc gia, các dự án lớn luôn có nhiều nhà đầu tư tham gia để lựa chọn phương án hiệu quả nhất. Khi có cạnh tranh, chất lượng sẽ được nâng lên và chi phí được tối ưu.

Đây chính là bước đổi mới trong tư duy điều hành, chuyển từ cách làm khép kín sang cách làm mở, từ phân chia cứng nhắc sang cạnh tranh minh bạch.

- Sau gần một năm triển khai, đâu là điều kiện quan trọng để Nghị quyết 68 thực sự tạo ra bước ngoặt cho khu vực kinh tế tư nhân, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng:Kết luận Phiên họp lần thứ tư của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các cơ quan nhà nước thực hiện “5 thông” đối với doanh nghiệp: thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh, nguồn lực khơi thông và chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp.

Đồng thời cộng đồng doanh nghiệp phát huy “5 tiên phong”: đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng thể chế, hình thành văn hóa kinh doanh và đóng góp cho phát triển quốc gia.

Hiện khu vực kinh tế tư nhân có hơn 6,1 triệu cơ sở kinh doanh, trong đó khoảng 940.000 doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng và tạo việc làm. Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, năng lực quản trị được nâng cao và phong trào khởi nghiệp đang chuyển sang giai đoạn thực chất, gắn với chuyển đổi số và phát triển xanh.

Sau gần một năm triển khai, Nghị quyết 68-NQ/TW đã tạo ra lực bật đáng kể về nhận thức và chiến lược phát triển. Tuy nhiên, để lực bật đó chuyển hóa thành tăng trưởng thực chất, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế đồng bộ, thiết lập cơ chế giám sát minh bạch và mạnh dạn trao cơ hội cho khu vực tư nhân tham gia các dự án lớn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy phần lớn các tập đoàn hàng đầu thế giới đều trưởng thành từ khu vực tư nhân trong môi trường cạnh tranh mở. Việt Nam cũng không thể đi con đường khác nếu muốn nâng cao vị thế quốc gia.

Xin cảm ơn ông!

Nghị quyết 68-NQ/TW vào cuộc sống: Bài 1 - Chính sách đã chạm đến doanh nghiệp

Nghị quyết 68-NQ/TW vào cuộc sống: Bài 2 - Động lực đã rõ, điểm nghẽn vẫn còn

Nguyễn Hạnh