Phát huy mạnh mẽ vai trò và nguồn lực của kiều bào
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn là nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và trực tiếp tham gia sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc.
Một trong những điểm chuyển biến quan trọng của Nghị quyết là sự đổi mới trong nhận thức về vị trí, vai trò và khả năng đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nếu Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2004 đặt nền tảng nhận thức về kiều bào là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, thì Nghị quyết số 23 tiếp tục phát triển tư duy này, nhấn mạnh việc phát huy nguồn lực kiều bào như một động lực chiến lược cho phát triển đất nước.
Tiến sĩ Trần Hải Linh phát biểu tại Hội nghị kết nối giao thương, thúc đẩy đầu tư - thương mại - du lịch giữa tỉnh Lâm Đồng và Hàn Quốc hôm 8/10 vừa qua.
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về tầm quan trọng của Nghị quyết số 23-NQ/TW, Tiến sĩ Trần Hải Linh - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), Chủ tịch sáng lập Hội chuyên gia, trí thức Việt Nam - Hàn Quốc (VKEIA) đánh giá, Nghị quyết có ý nghĩa rất quan trọng; đặt ra yêu cầu phát huy mạnh mẽ hơn vai trò, tiềm năng và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới đối với sự phát triển đất nước.
Theo Tiến sĩ Trần Hải Linh, hiện có hơn 6 triệu người Việt Nam sinh sống, làm việc tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có đông đảo trí thức, chuyên gia và doanh nhân đang hoạt động trong các tập đoàn lớn, viện nghiên cứu, trường đại học và trung tâm công nghệ của thế giới. Đây là nguồn lực bổ trợ, bộ phận cấu thành quan trọng của sức mạnh dân tộc trong thời kỳ hội nhập sâu rộng; đồng thời mang trong mình khát vọng được đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của quê hương.
Tuy nhiên, dưới góc độ một người đã nhiều năm trực tiếp kết nối doanh nghiệp, tập đoàn Hàn Quốc với các bộ, ngành và địa phương Việt Nam, Tiến sĩ Trần Hải Linh cho rằng, thành công của Nghị quyết sẽ không chỉ nằm ở việc có những chủ trương đúng, mà quan trọng hơn là chuyển hóa được những chủ trương đó thành cơ chế thực thi cụ thể, thuận lợi, minh bạch và có thể đo lường được kết quả.
Lấy ví dụ từ thực tế, ông Linh dẫn chứng, một doanh nhân kiều bào có thể dành nhiều năm xây dựng quan hệ, tạo dựng niềm tin với đối tác quốc tế, đưa một tập đoàn, một nhà đầu tư hay một công nghệ mới về Việt Nam. Nhưng khi về đến địa phương, nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều đầu mối, thiếu thông tin quy hoạch, không rõ thủ tục, không xác định được thời hạn giải quyết thì cơ hội hợp tác rất dễ bị chậm lại, thậm chí bị bỏ lỡ.
Kiến tạo cơ chế thuận lợi để kết nối đầu tư
Để phát huy nguồn lực kiều bào, Tiến sĩ Trần Hải Linh cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy vận động kiều bào về đầu tư sang tạo điều kiện để kiều bào và các đối tác quốc tế đầu tư thành công. Theo đó, trước hết, cần cụ thể hóa Nghị quyết số 23-NQ/TW bằng những cơ chế thống nhất, dễ áp dụng. Các bộ, ngành cần rà soát, tháo gỡ vướng mắc liên quan đến đầu tư, đất đai, thuế, hải quan, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, cư trú, lao động và hoạt động kinh doanh của người Việt Nam ở nước ngoài.
Tiến sĩ Trần Hải Linh kết nối, giới thiệu cơ hội hợp tác đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước Việt Nam - Hàn Quốc.
Theo Tiến sĩ Trần Hải Linh, một chính sách tốt phải được thực thi thống nhất từ trung ương đến địa phương, giúp doanh nghiệp biết rõ cần làm gì, liên hệ với ai, thời gian xử lý và chi phí dự kiến.
Thứ hai, thiết lập đầu mối hỗ trợ đầu tư thực chất tại mỗi địa phương. Từ kinh nghiệm của VKBIA trong kết nối doanh nghiệp Hàn Quốc, ông cho rằng nhà đầu tư không chỉ cần những cuộc tiếp đón hay hội nghị xúc tiến, mà cần thông tin cụ thể về quỹ đất, hạ tầng điện, logistics, quy hoạch, thủ tục và thời gian xử lý.
“Các tỉnh, thành phố có thể xây dựng cơ chế “Một đầu mối - Một hồ sơ theo dõi - Một lộ trình xử lý - Một trách nhiệm xuyên suốt” đối với dự án đầu tư chiến lược, trong đó có dự án do doanh nhân kiều bào kết nối. Đầu mối này cần có khả năng điều phối các sở, ngành và kịp thời báo cáo những vướng mắc vượt thẩm quyền”, Tiến sĩ Trần Hải Linh đề xuất.
Thứ ba, chuyển xúc tiến đầu tư từ giới thiệu tiềm năng sang cung cấp danh mục dự án cụ thể. Theo ông, nhà đầu tư quốc tế cần dữ liệu đáng tin cậy về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, năng lượng, nhân lực, thị trường, chuỗi cung ứng và điều kiện pháp lý, thay vì những lời giới thiệu chung về lợi thế địa phương.
Do đó, mỗi địa phương cần xây dựng danh mục dự án ưu tiên có tính khả thi, thường xuyên cập nhật và cung cấp thông tin bằng các ngôn ngữ phù hợp, đặc biệt là tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật tại những thị trường trọng điểm. Qua đó, doanh nhân kiều bào có thể chủ động kết nối đúng nhà đầu tư với đúng dự án.
Thứ tư, ghi nhận vai trò của doanh nhân kiều bào xuyên suốt quá trình kết nối đầu tư. Việc đưa một tập đoàn quốc tế đến khảo sát thường đòi hỏi quá trình dài xây dựng quan hệ, trao đổi thông tin, đánh giá thị trường và hỗ trợ triển khai. Vì vậy, cần có cơ chế phối hợp minh bạch giữa chính quyền địa phương, nhà đầu tư và tổ chức, doanh nhân kết nối; xác định rõ trách nhiệm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Thứ năm, chú trọng chất lượng và giá trị lâu dài của dự án. Theo Tiến sĩ Trần Hải Linh, hiệu quả đầu tư không nên chỉ đo bằng vốn đăng ký, mà còn ở khả năng tạo việc làm, đóng góp ngân sách, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và thúc đẩy phát triển bền vững.
Trong các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu, năng lượng xanh và logistics, địa phương cần chủ động kết nối doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam, trường đại học, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo. Mục tiêu không chỉ là thu hút nhà máy, mà còn hình thành hệ sinh thái sản xuất, công nghệ và chuỗi giá trị có khả năng phát triển lâu dài.
Thứ sáu, duy trì đối thoại và xử lý vướng mắc sau đầu tư. Các địa phương cần duy trì đối thoại định kỳ với doanh nghiệp, hiệp hội và tổ chức kết nối quốc tế; công khai đầu mối, tiến độ và kết quả xử lý kiến nghị.
Thứ bảy, xây dựng mạng lưới doanh nhân, chuyên gia, trí thức Việt Nam toàn cầu gắn với nhu cầu từng địa phương. “Địa phương phát triển bán dẫn có thể kết nối chuyên gia, doanh nhân Việt Nam tại Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản; địa phương phát triển nông nghiệp công nghệ cao có thể tìm đến mạng lưới chuyên gia về giống cây trồng, chế biến thực phẩm và logistics lạnh”, Tiến sĩ Trần Hải Linh kiến nghị và cho rằng, đây là cách chuyển từ việc “có mạng lưới kiều bào” sang sử dụng hiệu quả mạng lưới đó để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể.
Tiến sĩ Trần Hải Linh nhấn mạnh, để Nghị quyết số 23-NQ/TW đi vào cuộc sống, cần chuyển từ vận động kiều bào đóng góp sang tạo điều kiện để kiều bào cùng kiến tạo phát triển; từ xúc tiến theo sự kiện sang đồng hành theo dự án; từ ký kết biên bản ghi nhớ sang triển khai với trách nhiệm, tiến độ và kết quả cụ thể.
“Doanh nhân kiều bào có thể mở cánh cửa đưa nhà đầu tư quốc tế đến Việt Nam, nhưng chính chất lượng thể chế, tinh thần phục vụ và năng lực đồng hành của các bộ, ngành, chính quyền địa phương mới quyết định nhà đầu tư có bước qua cánh cửa ấy, ở lại và tiếp tục mở rộng đầu tư hay không”, ông nhấn mạnh.
Hiện cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 6,5 triệu người, gần gấp đôi so với thời điểm ban hành Nghị quyết số 36. Không chỉ gia tăng về số lượng, chất lượng nguồn lực của cộng đồng cũng ngày càng được nâng cao, với đông đảo nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân, trí thức trẻ và những người có kinh nghiệm về quản lý, quan hệ quốc tế.