Đóng

Những bàn tay phụ nữ tô thắm bức tranh ngành Công Thương

Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, Báo Công Thương lần giở những trang sử ngành, tư liệu lịch sử, dữ liệu thống kê để nhìn lại dấu ấn của phụ nữ trong hành trình xây dựng và phát triển nền công nghiệp, thương mại đất nước.

Giữ nghiệp nhà, góp của cho nước

Phụ nữ Việt Nam đã có mặt trong đời sống thương mại từ nhiều thế kỷ trước. Năm 1688, nhà hàng hải người Anh William Dampier ghi nhận nghề đổi tiền ở Đàng Ngoài là một hoạt động kinh doanh quan trọng do phụ nữ đảm nhận. Ông đánh giá những người phụ nữ làm nghề này có tài kiếm lời chẳng thua các nhà buôn khôn ngoan nhất ở Luân Đôn (Hoàng Anh Tuấn, Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Kẻ Chợ, Đàng Ngoài 1637 tới 1700). Giữa những phố phường Kẻ Chợ, người phụ nữ đã góp mặt trong các hoạt động trao đổi hàng hóa và tiền tệ. Họ tham gia những công việc gắn với vốn liếng, giá cả và các giao dịch thương mại trong một đô thị buôn bán sầm uất của Đàng Ngoài.

Sang đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của công thương nghiệp bản xứ, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện trên những sản phẩm mang thương hiệu Việt. Năm 1928, ông Trương Văn Bền mở hãng dầu và xà bông tại Chợ Lớn, sản phẩm mang hình một người phụ nữ được người tiêu dùng quen gọi là xà bông Cô Ba, trở thành một thương hiệu quen thuộc trong đời sống đô thị.

Bà Vương Thị Lai (ngồi) cùng con cháu. Ảnh: tư liệu gia đình do Giáo sư Mai Thế Trạch cung cấp

Trong các gia đình thương nhân, phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong quản lý tài sản, tổ chức kinh doanh và duy trì sinh kế. Từ hoạt động buôn bán thường ngày, nhiều gia đình đã tích lũy được nguồn lực lớn. Khi vận mệnh đất nước đứng trước bước ngoặt lịch sử năm 1945, nguồn lực đó được những người phụ nữ tự nguyện đóng góp cho chính quyền cách mạng.

Tháng 9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với tình trạng ngân khố gần như trống rỗng, chỉ còn khoảng 1,2 triệu đồng. Chính phủ phát động Tuần lễ Vàng, kêu gọi nhân dân đóng góp tài sản để bảo vệ nền độc lập vừa giành được, đợt vận động đã huy động được 20 triệu đồng và 370 kg vàng.

Trong những người hưởng ứng có nhiều phụ nữ thuộc các gia đình thương nhân Hà Nội, những người vốn quen quản lý vốn liếng, giữ gìn tài sản gia đình nay quyết định trao đi của cải tích lũy qua nhiều năm buôn bán.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ cùng chồng là nhà tư sản Trịnh Văn Bô, chủ hiệu tơ lụa Phúc Lợi tại số 48 Hàng Ngang, Hà Nội đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ. Gia đình đóng góp 117 lạng vàng trong những ngày đầu vận động, tổng giá trị tiền và vàng gia đình ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ đóng góp cho cách mạng qua nhiều đợt vận động tương đương 5.147 lạng vàng.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Mùi, vợ nhà tư sản Nguyễn Sơn Hà cùng con gái hiến số nữ trang của gia đình nặng 10,5 kg ngay trong lần ủng hộ đầu tiên. Bà Nguyễn Thị Lãm, thường được biết đến là bà Tam Kỳ, vợ chủ hiệu vải Tam Kỳ, đã xếp 300 lạng vàng vào một hộp bánh rồi mang đi ủng hộ chính quyền cách mạng. Giữa những ngày đầu độc lập, khi ngân khố quốc gia còn muôn vàn khó khăn, chiếc hộp bánh ấy chứa đựng số tài sản lớn mà gia đình bà tự nguyện đóng góp cho đất nước.

Cùng với những nữ thương nhân hưởng ứng Tuần lễ Vàng năm 1945, bà Tam Kỳ đã góp phần viết nên một trang sử đáng trân trọng của giới Công Thương Việt Nam. Của cải được tích lũy qua hoạt động sản xuất, kinh doanh nay trở thành nguồn lực góp sức bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Trong thời khắc vận mệnh quốc gia đứng trước muôn vàn thử thách, những người phụ nữ ấy đã lựa chọn đặt lợi ích của đất nước lên trên tài sản riêng của gia đình.

Giữ mạch sản xuất, giữ dòng hàng giữa chiến tranh

Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, xây dựng các cơ sở công nghiệp và tổ chức lại hoạt động thương nghiệp. Trong những nhà máy, hầm mỏ, hợp tác xã và làng nghề, phụ nữ tiếp tục tham gia sản xuất, từng bước tiếp cận các công việc đòi hỏi kỹ năng kỹ thuật.

Tại Cao Bằng, Mỏ thiếc Tĩnh Túc được khôi phục, xây dựng với sự giúp đỡ của Liên Xô và chính thức khánh thành năm 1956. Công nhân Việt Nam tiếp quản máy móc, từng bước làm chủ dây chuyền khai thác và chế biến quặng. Trong lực lượng lao động có những phụ nữ trực tiếp vận hành thiết bị.

Những bức ảnh đen trắng đó lưu giữ hình ảnh phụ nữ trong những năm đầu xây dựng công nghiệp miền Bắc. Họ đã đảm nhiệm các công việc kỹ thuật, vận hành máy móc và tham gia sản xuất tại những cơ sở khai khoáng đòi hỏi tính kỷ luật, độ chính xác và trình độ nghề nghiệp.

Tháng 9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Mỏ thiếc Tĩnh Túc, Người đến nơi ăn ở, nhà gửi trẻ, công trường khai thác và các bộ phận sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến những công nhân địa phương, nhất là phụ nữ đã sử dụng thành thạo máy móc hiện đại. Năm 1958, mỏ sản xuất được 120 tấn thiếc, vượt kế hoạch 20 tấn và hoàn thành kế hoạch năm trước thời hạn 60 ngày.

Trong khi công nhân Tĩnh Túc làm chủ những thiết bị khai khoáng, tại các làng nghề đồng bằng Bắc Bộ, phụ nữ tiếp tục duy trì sản xuất hàng thủ công, cung cấp cho hệ thống mậu dịch. Từ những bàn tay khéo léo của người thợ, từng sản phẩm được đưa vào lưu thông, góp phần duy trì sinh kế, tạo thu nhập cho phụ nữ nông thôn và phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong giai đoạn khôi phục kinh tế.

Ở miền Nam, hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng mang thương hiệu Việt tiếp tục phát triển. Năm 1957, một phụ nữ Sài Gòn mở xưởng kem dưỡng da mang tên Lan Hảo; đến năm 1961, thương hiệu đổi tên thành Thorakao, tham gia thị trường mỹ phẩm vốn có sự cạnh tranh của các sản phẩm nước ngoài.

Hiện diện của phụ nữ trong các lĩnh vực khai khoáng, dệt may, sản xuất hàng thủ công và hàng tiêu dùng đã góp phần quan trọng vào quá trình khôi phục, phát triển kinh tế miền Bắc. Khi chiến tranh phá hoại leo thang, những nữ công nhân, cán bộ thương nghiệp và lực lượng vận tải tiếp tục gánh vác nhiệm vụ duy trì sản xuất, bảo đảm lưu thông hàng hóa giữa những tuyến đường, nhà máy và kho hàng thường xuyên bị bom đạn đánh phá.

Đầu năm 1965, Bộ Nội thương thành lập Chi cục Vận tải Khu 4 để tiếp chuyển hàng nội thương vào các tỉnh phía Nam. Đơn vị có 328 cán bộ, nhân viên, tổ chức thành 7 trạm tại Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hoàng Mai, Vinh, Bắc Hà Tĩnh và Ba Đồn. Lực lượng vận tải gồm 32 đầu xe và 27 thuyền; trong đó, 12 thuyền nhỏ có thủy thủ chủ yếu là nữ, hoạt động trên các tuyến vận chuyển hàng hóa từ Hải Phòng, Hà Nội vào khu vực Vĩnh Linh.

Đường bộ liên tục bị đánh phá, đường thủy cũng không tránh khỏi bom đạn, cán bộ, nhân viên vận tải tổ chức tiếp nhận, bốc xếp, chuyển hàng qua những cung đường nguy hiểm. Nhiều chuyến vận chuyển được thực hiện trong đêm tối, không bật đèn, có người vừa làm nhiệm vụ vận tải, vừa tham gia tiếp đạn cho trận địa pháo hoặc đưa thương binh đi cấp cứu.

Trong 4 năm từ 1965-1969, Chi cục Vận tải Khu 4 tiếp nhận 42.000 tấn hàng và vận chuyển, bàn giao 41.631 tấn cho các địa phương, đơn vị có 26 cán bộ, nhân viên hy sinh trong quá trình làm nhiệm vụ. Phía sau những con số vận chuyển là công sức và cả máu xương của những người giữ cho hàng hóa tiếp tục lưu thông giữa chiến tranh; đội ngũ thủy thủ nữ trên 12 thuyền nhỏ là một phần của lực lượng đó.

Trung đội tự vệ nữ Nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định trực chiến tại trận địa nhà máy.

Tại các nhà máy, phụ nữ vừa tham gia sản xuất, vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ cơ sở công nghiệp. Chiều 7/7/1967, máy bay Mỹ đánh phá cầu Phủ Lý, chị Vũ Thị Minh Nguyệt, đảng viên Đảng bộ Nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định cùng đồng đội bước vào trận chiến đấu bảo vệ cây cầu. Đây là trận đánh thứ 22 của chị. Trước đó, chị Nguyệt đã 21 lần tham gia đánh trả máy bay Mỹ, bị thương trong trận đánh cuối cùng, chị vẫn giấu đồng đội tiếp tục chiến đấu cho đến khi hy sinh.

Chị Nguyệt là chiến sĩ thuộc lực lượng trực chiến lưu động của nhà máy. Lực lượng tự vệ Nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định có 283 cán bộ, chiến sĩ, trong đó 131 người là nữ, chiếm 46,3%. Từ tháng 7/1965 đến tháng 12/1972, có những ngày nhà máy hứng chịu 2-3 trận bom. Giữa những đợt đánh phá ác liệt, công nhân vẫn bám máy sản xuất, lực lượng tự vệ giữ trận địa. Nhà máy Dệt Nam Định lúc bấy giờ được gọi là "Cồn Cỏ của Thành Nam".

Bà Phạm Thị Viễn, công nhân Nhà máy Cơ khí Mai Động, nữ tự vệ chít khăn tang bên mâm pháo thời chống Mỹ.

Tại Hà Nội, năm 1966, Nhà máy Dệt 8-3 thành lập một tiểu đoàn tự vệ gồm 5 đại đội, bố trí trận địa trên nóc các phân xưởng đay, sợi và dệt. Những nữ công nhân vốn quen nối chỉ, xe sợi, cầm thoi nay cầm súng bảo vệ nhà máy.

Ngày 10/12/1967, chị Lưu Thị Xuân cùng lực lượng tự vệ Dệt 8-3 bắn rơi một máy bay phản lực Mỹ. Ngày 13/8/1968, lực lượng tự vệ nhà máy tiếp tục bắn rơi một máy bay không người lái bằng 14 viên đạn súng máy phòng không 12,7 mm. Đêm 22/12/1972, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn của Nhà máy Cơ khí Mai Động cùng đồng đội tham gia trận đánh bắn rơi một chiếc F-111A, loại máy bay được gọi là "cánh cụp, cánh xòe".

Trong những năm tháng đó, hình ảnh phụ nữ đứng bên máy dệt, mâm pháo, trên chuyến xe vận tải hay con thuyền chở hàng cùng hiện diện trên một mặt trận đặc biệt. Giữ nhà máy, giữ năng lực sản xuất và bảo đảm lưu thông hàng hóa cũng là giữ nguồn lực cho cuộc kháng chiến. Sau chiến tranh, đất nước thống nhất nhưng đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Thời bao cấp, bên cạnh công việc tại cơ quan, nhà máy và trường học, nhiều phụ nữ tranh thủ làm thêm nghề thủ công để tăng thu nhập.

Cuốn Chuyện thời bao cấp ghi lại hình ảnh phụ nữ Hà Nội đan len, dệt khăn, may áo, làm kim băng đem bán. Nhiều gia đình tận dụng vải vụn, sửa quần áo cũ, làm thêm những sản phẩm thủ công phục vụ nhu cầu sinh hoạt. Những công việc ấy giúp nhiều gia đình vượt qua thời kỳ thiếu thốn, đồng thời phản ánh bền bỉ của lao động nữ trong việc duy trì sản xuất, kinh doanh nhỏ và bảo đảm đời sống.

Từ siêu thị thuần Việt đến những công trình công nghệ cao

Công cuộc đổi mới mở ra bước chuyển lớn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ những cơ sở thương nghiệp, hợp tác xã đến doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ, phụ nữ từng bước đảm nhiệm các vị trí quản lý, điều hành, nghiên cứu và phát triển thị trường.

Trong ngành bán lẻ, câu chuyện của bà Nguyễn Thị Nghĩa (bí danh Chín Ngân thời hoạt động cách mạng tại Sài Gòn) gắn với sự hình thành hệ thống Co.opmart. Đầu những năm 1990, phong trào hợp tác xã mua bán tại TP. Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn, số lượng hợp tác xã giảm từ khoảng 300 đơn vị xuống còn hơn 100. Trên cương vị Trưởng ban Quản lý hợp tác xã mua bán, bà Nghĩa trăn trở tìm hướng phát triển mới và nảy ra ý tưởng mở siêu thị.

Thiếu vốn, bà tìm đối tác Nhật Bản để liên doanh. Cuộc hợp tác không thành, phía đối tác rút vốn trước hạn và chấp nhận bồi thường, bà Nghĩa quyết định dùng khoản tiền bồi thường 3 tỷ đồng để mở siêu thị.

Co.opmart Cống Quỳnh năm 1996.

Ngày 9/2/1996, Co.opmart Cống Quỳnh chính thức khai trương tại TP. Hồ Chí Minh. Người dân kéo đến đông đến mức chen lấn, làm vỡ cả cửa kính. Giữa lúc nhiều siêu thị hướng tới phân khúc khách hàng có thu nhập cao và kinh doanh hàng ngoại nhập, bà Nghĩa chọn phục vụ người tiêu dùng bình dân, ưu tiên hàng Việt Nam với giá cả phù hợp.

Từ một siêu thị trên đường Cống Quỳnh, Saigon Co.op từng bước mở rộng hệ thống ra các địa phương. Năm 2002, Co.opmart Cần Thơ khai trương, trở thành siêu thị đầu tiên của hệ thống ngoài TP. Hồ Chí Minh. Năm 2003, Co.opmart Quy Nhơn mở cửa tại Bình Định, đánh dấu bước phát triển tại miền Trung.

Câu chuyện của bà Chín Ngân gắn với một giai đoạn quan trọng của thương mại Việt Nam, khi hoạt động bán lẻ từng bước chuyển sang những mô hình tổ chức hiện đại hơn. Từ một hệ thống hợp tác xã đứng trước nhiều khó khăn, Saigon Co.op phát triển mạng lưới siêu thị mang thương hiệu Việt và mở rộng kênh phân phối hàng hóa trong nước.

Nếu bà Chín Ngân ghi dấu trong ngành bán lẻ, những nữ lãnh đạo, kỹ sư ngành Dầu khí lại cho thấy bước tiến của phụ nữ trong các lĩnh vực công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao.

Theo sách Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam, năm 2002, toàn ngành có gần 19.000 lao động, trong đó 3.214 người là nữ. Đội ngũ nhân lực trình độ cao ghi nhận 21 nữ tiến sĩ. Đây là giai đoạn ngành Dầu khí đẩy mạnh đầu tư các công trình khai thác, chế biến và dịch vụ kỹ thuật, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực.

Năm 2006, bà Trần Thị Bình - Phó Trưởng ban Chế biến dầu khí được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Tốt nghiệp chuyên ngành công nghệ chế biến dầu khí tại Liên Xô năm 1981, bà Bình trải qua nhiều vị trí chuyên môn, tham gia công tác chuẩn bị, đàm phán kỹ thuật và công nghệ của dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất trước khi đảm nhiệm vị trí điều hành cấp cao.

Tháng 1/2009, bà Phạm Thị Thu Hà - Trưởng ban Xây dựng, tiếp tục được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Hai nữ lãnh đạo đảm nhiệm trọng trách trong bộ máy điều hành vào giai đoạn ngành Dầu khí đẩy mạnh triển khai các dự án công nghiệp, năng lượng quy mô lớn với yêu cầu ngày càng cao về năng lực quản trị, trình độ chuyên môn và làm chủ công nghệ.

Bà Mai Kiều Liên (Vinamilk) và bà Thái Hương (TH true Milk) được vinh danh trong TOP 50 lãnh đạo nữ quyền lực nhất châu Á năm 2015 do Tạp chí Forbes công bố.

Trong lĩnh vực công nghiệp thực phẩm, những nữ doanh nhân như bà Mai Kiều Liên và bà Thái Hương cũng ghi dấu qua quá trình xây dựng, phát triển các thương hiệu Việt.

Gắn bó nhiều thập niên với Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), bà Mai Kiều Liên giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển doanh nghiệp, mở rộng sản xuất, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Năm 2026, bà được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Cũng trong năm này, Vinamilk lần thứ hai được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Hiện sản phẩm của Vinamilk đã có mặt tại 67 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng kim ngạch xuất khẩu lũy kế vượt 3,9 tỷ USD. Vinamilk cũng là đại diện duy nhất của Việt Nam nằm trong Top 10 thương hiệu sữa có giá trị lớn nhất toàn cầu theo xếp hạng của Brand Finance năm 2026, đồng thời duy trì mức xếp hạng AAA+

Với bà Thái Hương, Nhà sáng lập Tập đoàn TH, dấu ấn nổi bật là lựa chọn phát triển ngành sữa gắn với chăn nuôi tập trung và ứng dụng công nghệ cao. Từ dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tươi sạch tại Nghệ An, TH từng bước phát triển các cơ sở sản xuất, chế biến và hệ thống phân phối sản phẩm mang thương hiệu Việt. Tập đoàn TH hiện chiếm trên 51% thị phần sữa tươi tại Việt Nam, đồng thời tiếp tục mở rộng hệ sinh thái các dòng đồ uống tốt cho sức khỏe. Tháng 9/2026, cụm trang trại bò sữa tập trung ứng dụng công nghệ cao với quy trình sản xuất khép kín tại Nghệ An tiếp tục được Liên minh Kỷ lục Thế giới chứng nhận quy mô đàn bò đạt tới 75.000 - 80.000 con, giữ vững kỷ lục thế giới lớn nhất.

Những con đường phát triển khác nhau nhưng cùng cho thấy vai trò của nữ doanh nhân trong việc tổ chức sản xuất, huy động nguồn lực, ứng dụng công nghệ và xây dựng thương hiệu trên thị trường.

Ở các nhà máy công nghiệp, phụ nữ cũng ngày càng tham gia sâu vào hoạt động nghiên cứu, đổi mới công nghệ.

Tại Công ty Cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), kỹ sư Trương Thị Thu Hà là thành viên tham gia từ những ngày đầu của chương trình nghiên cứu, sản xuất nhiên liệu đặc chủng phục vụ quốc phòng. Công trình được triển khai trong nhiều năm, với những yêu cầu kỹ thuật khắt khe đối với nhiên liệu dùng cho các phương tiện quân sự.

Từ công việc tại phòng thí nghiệm, các kỹ sư BSR phải giải quyết những bài toán về tiêu chuẩn chất lượng, điều kiện vận hành thiết bị và khả năng tổ chức sản xuất trên dây chuyền của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Sự tham gia của nữ kỹ sư trong công trình cho thấy lao động nữ đã đảm nhiệm những nhiệm vụ nghiên cứu chuyên sâu tại các cơ sở công nghiệp hiện đại.

Nữ cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) trong phòng thí nghiệm.

Trong lĩnh vực vận tải dầu khí, bà Mai Thị Hoài Hương - Giám đốc Chi nhánh PVTrans OFS thuộc Tổng công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí tham gia công tác quản lý hoạt động vận hành, bảo dưỡng tàu chứa dầu FSO/FPSO. Bà tham gia đàm phán với đối tác quốc tế và thúc đẩy sử dụng đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong những công việc kỹ thuật chuyên sâu.

Năm 2025, bà được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vinh danh là điển hình xuất sắc trong phong trào "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" giai đoạn 2020-2025.

7,22 triệu lao động nữ và câu hỏi về cơ hội phát triển

Những câu chuyện lịch sử và chân dung nhân vật cho thấy đóng góp của phụ nữ qua từng giai đoạn. Dữ liệu thống kê giúp nhận diện rõ hơn vị trí của lực lượng lao động nữ trong nền kinh tế hiện đại, từ quy mô tham gia, cơ cấu nghề nghiệp đến thu nhập và cơ hội đảm nhiệm vị trí lãnh đạo.

Theo Cục Thống kê, năm 2024, cả nước có 7,22 triệu lao động nữ làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 41,6% tổng số lao động của khu vực này. Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2024 ghi nhận hơn 7,62 triệu người thuộc nhóm nghề thợ lắp ráp, vận hành máy móc thiết bị, trong đó nữ chiếm 44,9%. Ở nhóm nghề dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng với hơn 10,41 triệu lao động, tỷ lệ nữ đạt 61%.

Các nhóm nghề trên được thống kê trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, không đồng nhất với lực lượng lao động của ngành Công Thương. Dù vậy, những con số phản ánh vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất, vận hành thiết bị, kinh doanh, phân phối hàng hóa và cung ứng dịch vụ.

Đối với nhóm quản lý, lãnh đạo, tỷ lệ nữ giảm rõ rệt. Năm 2024, cả nước có hơn 477.000 lao động thuộc nhóm nghề nhà lãnh đạo, trong đó nữ chiếm 28,4%, tăng 1,1% so với năm 2023. Bình quân 10 người thuộc nhóm nghề này có chưa đến 3 phụ nữ.

Chênh lệch cũng hiện diện trong thu nhập. Theo Cục Thống kê, năm 2024, lao động nữ làm công hưởng lương trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nhận bình quân 7,89 triệu đồng/tháng, bằng 87% mức thu nhập của nam giới. Trong ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, tỷ lệ này đạt 94,3%.

Các con số phản ánh khoảng cách thu nhập bình quân giữa lao động nữ và nam trong hai lĩnh vực. Tuy nhiên, chênh lệch này còn chịu tác động của nhiều yếu tố như cơ cấu nghề nghiệp, vị trí công việc, trình độ chuyên môn và thời gian lao động. Vì vậy, việc đánh giá mức độ bình đẳng về tiền lương đòi hỏi phân tích sâu hơn về thu nhập của lao động nữ và nam trong những công việc có tính chất và điều kiện tương đương.

Ở cấp doanh nghiệp, các báo cáo thường niên và báo cáo phát triển bền vững năm 2025 tiếp tục phản ánh sự khác biệt lớn về cơ cấu lao động nữ giữa các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Qua khảo sát số liệu công bố của 12 doanh nghiệp niêm yết hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và năng lượng, tỷ lệ lao động nữ có sự phân hóa rõ rệt.

Tại Công ty Cổ phần May Sông Hồng, 8.548 trong tổng số 11.720 lao động là nữ, chiếm 72,94%. Tại Tập đoàn Điện Quang, phụ nữ chiếm 47% lực lượng lao động.

Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu có 268 lao động nữ trong tổng số 731 người vào cuối năm 2025, tương ứng 36,7%. Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ tổng hợp Dầu khí (PETROSETCO) ghi nhận 1.026 lao động nữ trên tổng số 3.219 người, chiếm khoảng 32%.

Công ty Cổ phần Sợi Thế Kỷ có tỷ lệ nữ 26% trong tổng số 968 lao động. Riêng nhóm nhân sự tuyển mới trong năm 2025, nữ chiếm 28%.

Ở các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng, khoan và vận tải dầu khí, tỷ lệ lao động nữ thấp hơn. Theo báo cáo thường niên 2025, PV Drilling có 2.754 nhân sự, trong đó nữ chiếm 18,1%. Báo cáo phát triển bền vững cùng năm công bố tỷ lệ nữ 17% trên phạm vi 1.885 nhân sự. 

Công ty Cổ phần Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương ghi nhận tỷ lệ nữ 15,9%. Thủy điện Thác Mơ có 15 lao động nữ trên tổng số 105 người, tương đương 14,3%. Tại Công ty Cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn, ghi nhận 214 lao động nữ trên tổng số 1.567 người, chiếm khoảng 13,7%.

Trong lĩnh vực vận tải dầu khí, PVTrans có tỷ lệ nữ 8,2% vào năm 2025. Số lao động nữ tăng từ 196 người năm 2023 lên 219 người năm 2024 và 228 người năm 2025. Tỷ lệ tương ứng lần lượt là 7,6%, 8% và 8,2%.

Dệt non sông gấm vóc

Trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan hăng hái tham gia thi đua ái quốc, thành tích không kém đàn ông". Người dành những lời trân trọng: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7).

Hơn bảy thập niên đã qua, đất nước chuyển mình qua chiến tranh, thống nhất, đổi mới và hội nhập. Những thế hệ phụ nữ từng đứng bên khung cửi, mâm pháo, trên các chuyến xe vận tải thời chiến nay có những thế hệ tiếp nối trong nhà máy hiện đại, trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất và hệ thống phân phối hàng hóa. Công việc thay đổi, phương thức sản xuất thay đổi và những yêu cầu đối với năng lực của người lao động cũng ngày càng cao.

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 95 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày 2/10/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) khẳng định: "Đầu tư cho phụ nữ chính là đầu tư cho năng suất quốc gia, cho tương lai dân tộc".

Thông điệp khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển phụ nữ với nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong đó, trọng tâm là mở rộng cơ hội để phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản trị, khởi nghiệp và nghiên cứu khoa học; nâng cao kỹ năng số, khả năng tiếp cận tài chính, công nghệ và thị trường. Đối với nữ công nhân tại các khu công nghiệp, những vấn đề thiết thực như nhà trẻ, dịch vụ chăm sóc trẻ theo ca, nhà ở xã hội và điều kiện làm việc an toàn cũng được đặt ra nhằm tạo điều kiện để phụ nữ yên tâm lao động, phát triển nghề nghiệp.

Đối với ngành Công Thương, những yêu cầu trên gắn trực tiếp với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy năng lực của lao động nữ. Theo Cục Thống kê, năm 2024, cả nước có 7,22 triệu lao động nữ trong khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 41,6% tổng số lao động của khu vực này. Phụ nữ tham gia đông đảo vào các hoạt động sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực dệt may, chế biến thực phẩm, lắp ráp và thương mại.

Tuy nhiên, thu nhập bình quân của lao động nữ làm công hưởng lương trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ bằng 87% mức của nam giới. Trong nhóm nghề nhà lãnh đạo của toàn nền kinh tế, tỷ lệ nữ đạt 28,4%. Những chênh lệch về thu nhập và cơ cấu nghề nghiệp đặt ra yêu cầu tiếp tục cải thiện điều kiện lao động, nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng cơ hội phát triển, thăng tiến cho phụ nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong bối cảnh đất nước hướng tới những mục tiêu tăng trưởng cao, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất lao động, phát huy nguồn nhân lực nữ gắn liền với yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng. Thu hẹp khoảng cách thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc và mở rộng cơ hội thăng tiến cho phụ nữ cũng chính là khai thác hiệu quả hơn nguồn lực con người phục vụ phát triển công nghiệp, thương mại.

Hơn bảy thập niên qua, lời Chủ tịch Hồ Chí Minh về những người phụ nữ góp sức dệt thêu non sông gấm vóc vẫn còn nguyên giá trị. Những bàn tay từng giữ vàng cho gia đình, giữ khung cửi, giữ nhà máy giữa chiến tranh nay tiếp tục làm ra sản phẩm, xây dựng doanh nghiệp và làm chủ công nghệ hiện đại. Công việc và phương thức lao động đã đổi thay song những đóng góp của phụ nữ vẫn bền bỉ hiện diện trong từng chặng đường phát triển của đất nước.

Tiếp nối những trang sử đó, điều thiết thực nhất là tạo cơ hội để phụ nữ phát huy trọn vẹn năng lực, trí tuệ và sức lao động, được ghi nhận và trao trọng trách tương xứng với những đóng góp của mình vào sự phát triển của ngành Công Thương và nền kinh tế Việt Nam.

Lâm Vỹ Sơn