Có người ví công việc của cán bộ Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài là "vừa xay lúa, vừa bế em" - một cách ví rất đời thường nhưng khắc họa trọn vẹn những con người phải đảm đương nhiều vai cùng lúc, giữa những thị trường cách Tổ quốc hàng nghìn kilômét.
6h sáng ở Manila, bất kể mưa xối xả hay cái nắng gắt của vùng nhiệt đới cận Xích đạo, một ngày làm việc của ông Lê Phú Cường, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Philippines bắt đầu không phải bằng những cuộc họp, mà bằng việc cập nhật thông tin mới nhất của thị trường.
Trước khi trả lời email doanh nghiệp, ông rà soát hệ thống Google Alert cùng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) được thiết lập để tự động quét tin từ báo chí, cơ quan quản lý và các tổ chức quốc tế. Hàng trăm thông tin được phân loại theo ngành hàng rồi gửi thẳng đến điện thoại. Riêng hạt gạo - ngành hàng chủ lực sang Philippines, mọi biến động giá cả, chính sách nhập khẩu gần như phải cập nhật theo thời gian thực.
Theo ông, AI giúp rút ngắn đáng kể thời gian thu thập thông tin, để người làm thị trường tập trung phân tích, đánh giá tác động và kịp thời khuyến nghị cho doanh nghiệp.
Nhưng email và bản tin chỉ là phần nổi, sau mỗi thông tin chuyển về Việt Nam là hàng giờ đọc tài liệu, đối chiếu quy định, xác minh nguồn tin. Xen giữa là những cuộc họp với cơ quan sở tại, những chuyến khảo sát thị trường, hàng chục cuộc trao đổi với doanh nghiệp qua email, Zalo, WhatsApp. "Nhiều chương trình xúc tiến rơi vào cuối tuần, nên thứ Bảy, Chủ nhật cũng thành ngày làm việc bình thường", ông Lê Phú Cường chia sẻ.
Công việc của hệ thống Thương vụ gần như không có điểm dừng, khi một ngày làm việc của Tham tán Thương mại Việt Nam tại Philippines dần khép lại, thì ở cách đó hàng nghìn km, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển (kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia) Nguyễn Hoàng Thúy vẫn đang theo dõi những diễn biến mới nhất của thị trường, chuẩn bị cho các cuộc làm việc với doanh nghiệp và cơ quan chức năng sở tại. Sự tiếp nối giữa các múi giờ ấy tạo thành một mạng lưới hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam gần như không ngừng nghỉ: nơi này vừa kết thúc một ngày thì nơi khác đã bắt đầu một ngày mới.
Theo bà Thúy, khoảng cách giữa một sản phẩm tốt và một sản phẩm có thể đứng vững trên thị trường quốc tế đôi khi không nằm ở chất lượng, mà ở khả năng đáp ứng đúng quy định, đúng thị hiếu và đúng thời điểm. Một doanh nghiệp có thể làm ra sản phẩm tốt nhưng vẫn thất bại nếu không hiểu tiêu chuẩn nhập khẩu, không nắm xu hướng tiêu dùng hoặc đặt niềm tin nhầm đối tác.
Bởi vậy, trong mỗi nhiệm kỳ công tác, một trong những việc đầu tiên bà thực hiện là xây dựng “hạ tầng thông tin” cho thị trường: từ hệ thống quy định pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật, mạng lưới phân phối đến cơ sở dữ liệu của hàng nghìn doanh nghiệp sở tại, được phân loại theo từng ngành hàng Việt Nam có thế mạnh. Nhưng theo bà, thông tin chỉ thực sự có giá trị khi được cập nhật liên tục, chuyển đến đúng người và tạo ra sự tương tác hai chiều với doanh nghiệp. Vì thế, song song với việc xây dựng cơ sở dữ liệu, Thương vụ phát triển đồng bộ các kênh kết nối như website, bản tin thị trường và mạng xã hội, từng bước hình thành một cộng đồng doanh nghiệp có thể thường xuyên tiếp nhận thông tin, trao đổi nhu cầu, phản ánh vướng mắc và tìm kiếm cơ hội hợp tác.
Nếu nghiên cứu thị trường đòi hỏi chiều sâu và sự bền bỉ thì phạm vi địa bàn lại đặt ra một áp lực khác. Văn phòng Thương vụ tại Thụy Điển chỉ có hai cán bộ nhưng phụ trách năm quốc gia, mỗi nước có hệ thống pháp luật, văn hóa kinh doanh và mạng lưới phân phối riêng, buộc họ liên tục di chuyển để khảo sát thị trường, gặp gỡ doanh nghiệp và tham dự các hội chợ chuyên ngành. Có chuyến công tác, họ tự lái xe hàng trăm kilômét chỉ để dự một cuộc gặp kéo dài vài giờ, bởi đôi khi một cuộc gặp đúng người, đúng thời điểm có thể mở ra cơ hội cho cả một ngành hàng.
Cán bộ Thương vụ phải tự lái xe hàng trăm kilômét để dự cuộc họp kéo dài vài giờ.
Mùa đông Bắc Âu còn đem đến những thử thách rất riêng. Trước một chương trình làm việc, “bài tập thể dục” đầu ngày đôi khi là xúc lớp tuyết dày trước cửa nhà giữa thời tiết lạnh giá.
Nguồn lực hạn chế, nhiều việc vốn có thể thuê dịch vụ lại do chính cán bộ Thương vụ đảm nhận: tự chuẩn bị tài liệu, vận chuyển hàng mẫu, điều phối chương trình, đón khách; dịp lễ, Tết còn tự đi chợ, nấu ăn giới thiệu ẩm thực Việt với đối tác.
Chính từ thực tế ấy, bà Nguyễn Hoàng Thúy mới ví công việc của mình bằng hình ảnh "vừa xay lúa, vừa bế em". Đó là khi đôi tay đang lo những việc rất cụ thể như chuyển hàng mẫu, dựng gian hàng, lái xe hay chuẩn bị một bữa cơm Việt Nam, nhưng trong đầu vẫn phải giữ được cái nhìn dài hạn về chính sách, thị trường và lợi ích của doanh nghiệp.
Theo bà, điều khó nhất không hẳn là khối lượng công việc, mà là trách nhiệm đi kèm với từng quyết định. Một email giới thiệu đối tác liên quan đến tài sản và sự an toàn của doanh nghiệp Việt Nam; một bản tin thị trường có thể tác động đến kế hoạch sản xuất, đầu tư; một cảnh báo gửi chậm có thể khiến doanh nghiệp chịu tổn thất; nhưng một kết nối đúng lúc cũng có thể mở ra cơ hội cho cả một ngành hàng.
Ngoài trách nhiệm công vụ, những cán bộ như bà Thúy còn phải đảm nhận vai trò của một người vợ, người mẹ trong gia đình. Hơn mười năm công tác ở nước ngoài cũng là hơn mười cái Tết xa quê. Giữa mùa đông Bắc Âu, bà vẫn tự tay gói bánh chưng, bánh tét, chuẩn bị những món ăn truyền thống để cùng gia đình, đồng nghiệp và cộng đồng người Việt đón năm mới.
Như những người làm Thương vụ ở nhiều địa bàn khác, họ mang theo không chỉ nhiệm vụ xúc tiến, mà cả hình ảnh, bản sắc và uy tín của Việt Nam.
Mang hình ảnh và uy tín của Việt Nam ra nước ngoài mới chỉ là khởi đầu, từ những kiến thức thị trường, mạng lưới quan hệ và những chuyến đi không ngừng nghỉ ấy, cán bộ Thương vụ từng ngày dựng nên những "nhịp cầu" đưa hàng Việt ra thế giới.
Không phải ngẫu nhiên nhiều người ví họ là những người "mai mối" cho hàng Việt. Bởi trước khi một sản phẩm xuất hiện trên kệ hàng nước ngoài hay một hợp đồng được ký, luôn cần cả một quá trình kết nối, tạo dựng niềm tin, thu hẹp khoảng cách giữa nhu cầu thị trường với năng lực doanh nghiệp Việt.
Cán bộ Thương vụ Philippines kiêm nhiệm nhiều đầu việc do nguồn lực hạn chế.
Còn nhớ, khi Công ty Cổ phần Thực phẩm Bình Tây "chân ướt, chân ráo" mang sản phẩm Việt đến Philippines, mọi thứ còn rất bỡ ngỡ. Ngay từ email đề nghị hỗ trợ đầu tiên, ông Lê Phú Cường đã trực tiếp hướng dẫn. Từ lần ấy, Bình Tây đặt trọn niềm tin, liên tục quay lại các kỳ hội chợ với nhiều dòng sản phẩm mới. Qua mạng lưới kết nối của Thương vụ, doanh nghiệp từng bước tiếp cận nhà nhập khẩu, nhà phân phối địa phương, đưa hàng vào hệ thống bán lẻ tại thị trường hơn 115 triệu dân này.
Với Thương vụ, hội chợ, triển lãm không chỉ là nơi trưng bày, mà là "điểm hẹn" để doanh nghiệp gặp đối tác, kiểm chứng sức cạnh tranh của hàng Việt. Từ thực tiễn Philippines, Tham tán Lê Phú Cường cho biết Thương vụ luôn ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp dự hội chợ chuyên ngành, bởi đó là cách hiệu quả nhất để vừa quảng bá, vừa tiếp cận trực tiếp nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối.
Thế nhưng, việc của người "mai mối" không kết thúc khi hai bên đã gặp nhau, rủi ro luôn có thể phát sinh sau khi hợp đồng đã ký, thậm chí khi hàng đã cập cảng. Khi đó, Thương vụ là địa chỉ đầu tiên doanh nghiệp tìm đến. Tham tán Lê Phú Cường nhớ lại vụ Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Quốc tế TVC Việt Nam với lô hàng khoảng 520.000 USD xuất sang Philippines. Sau khi hàng lên tàu, doanh nghiệp mới "tá hỏa" phát hiện nguy cơ lừa đảo: không hề tồn tại người mua thực. Toàn bộ giao dịch được dựng lên nhằm đẩy doanh nghiệp vào thế phải gánh chi phí lớn.
Cán bộ Thương vụ đồng hành cùng doanh nghiệp tham gia hội chợ chuyên ngành, kết nối trực tiếp với nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối.
Với ông Cường, đó chỉ là một trong rất nhiều vụ việc từng xử lý, nhưng đó là minh chứng rõ nhất: vai trò của Thương vụ không dừng ở kết nối giao thương, mà là đồng hành cùng doanh nghiệp suốt quá trình kinh doanh nơi đất khách.
Ở góc độ khác, Thương vụ còn là những người đi trước, tìm kiếm và khai mở dư địa tăng trưởng mới cho hàng Việt. Bà Nguyễn Hoàng Thúy vẫn nhớ câu chuyện đưa trái vải Việt Nam vào Australia trong nhiệm kỳ công tác trước khi bà chuyển sang Thuỵ Điển.
Khi Australia chính thức mở cửa cho trái vải Việt Nam, việc vượt qua các yêu cầu kỹ thuật mới chỉ là bước đầu. Thách thức lớn hơn là tìm được doanh nghiệp đủ "dũng khí" nhập lô hàng đầu tiên, trong bối cảnh người tiêu dùng sở tại còn rất xa lạ với loại trái cây này và chưa ai có thể chắc chắn về sức mua của thị trường trong khi đây là loại trái cây rất nhanh hỏng.
Không thể để một sản phẩm đã vượt qua cánh cửa kỹ thuật lại dừng bước trước cánh cửa thị trường, bà Thúy và các cộng sự quyết định phối hợp với Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Australia tổ chức "Ngày vải Việt Nam", "Tuần vải Việt Nam", vận động cộng đồng cùng quảng bá, dùng thử và tiêu thụ những lô hàng đầu tiên.
Rời Australia sang Thụy Điển, hành trình đưa hạt gạo Việt Nam vào Bắc Âu cũng lắm chông gai. Khi ấy, gạo Việt hiện diện khá mờ nhạt trên các kệ hàng tại Thụy Điển. Thị trường đã có nhiều sản phẩm đến từ những quốc gia xuất khẩu gạo lâu năm; nhà nhập khẩu e ngại sức mua, trong khi người tiêu dùng gần như chưa có cơ hội nhận biết sự khác biệt về chất lượng và hương vị của gạo Việt Nam.
Thương vụ lựa chọn đi từ những bước nhỏ nhưng thiết thực, trước hết là cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên kinh doanh và tiêu dùng hàng Việt Nam” trong cộng đồng người Việt tại sở tại. Các nhà nhập khẩu và chủ hệ thống phân phối thực phẩm châu Á do người Việt làm chủ được vận động mạnh dạn đưa gạo Việt vào kinh doanh, tổ chức khuyến mại, dùng thử và trực tiếp giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng. Đồng thời, Thương vụ hướng dẫn các doanh nghiệp nhập khẩu khai thác hiệu quả những ưu đãi từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), qua đó nâng cao sức cạnh tranh và tạo điều kiện để gạo Việt thâm nhập sâu hơn vào thị trường. Chỉ sau khoảng ba năm, kim ngạch xuất khẩu gạo sang Thụy Điển tăng từ vài chục nghìn USD lên khoảng 3-4 triệu USD.
Cán bộ Thương vụ kết nối doanh nghiệp, mở rộng thị trường cho hàng Việt.
“Kết nối thực sự không bắt đầu từ việc trao cho hai doanh nghiệp địa chỉ email của nhau. Nó bắt đầu từ việc hiểu người bán đang lo điều gì, người mua cần điều gì và sản phẩm còn thiếu điều gì để đi được quãng đường giữa hai bên. Có những thị trường không mở ra bằng một sự kiện lớn, mà từ một lô hàng thử nghiệm, một người tiêu dùng hài lòng, hay một chủ cửa hàng sẵn sàng nói với khách hàng của mình rằng: ‘Hàng Việt Nam tốt lắm’. Khi lời giới thiệu ấy được lặp lại đủ nhiều, niềm tin thị trường sẽ được hình thành”, bà Nguyễn Hoàng Thúy chia sẻ.
Những nỗ lực lặng thầm của những người như ông Cường, bà Thúy cuối cùng đã "đơm hoa kết trái", khi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với Thụy Điển, các nước Bắc Âu và Việt Nam với Philippines liên tục tăng qua các năm.
Những con số tăng trưởng là kết quả có thể đo đếm; giá trị sâu xa hơn là những cánh cửa thị trường được mở ra và niềm tin dành cho hàng Việt được bồi đắp. “Vừa xay lúa, vừa bế em” vì thế không chỉ nói về sự đa nhiệm, mà còn là hình ảnh của những cán bộ Thương vụ lặng lẽ biến công việc thường ngày thành những bước đi dài cho doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới.
Kết quả tăng trưởng thương mại là minh chứng cho những cánh cửa thị trường được mở ra và niềm tin dành cho hàng Việt được bồi đắp.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương giữa nhịp hối hả của một chuyến đàm phán ở nước ngoài, ông Đỗ Quốc Hưng, Quyền Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương) cho biết: Trong bối cảnh thế giới biến động không ngừng, thông tin nhanh và nhạy bén là chìa khóa thành công cho doanh nghiệp. Với phương châm "lấy doanh nghiệp làm trọng tâm phục vụ", hệ thống Thương vụ đang hằng ngày nỗ lực để trở thành "ăng ten", "cánh tay nối dài" ra thế giới và là "đội phản ứng nhanh" cho doanh nghiệp.
Đó không chỉ là những con số đẹp trên báo cáo, mà là kết quả của một hệ thống "ăng ten" ngày đêm cảnh báo sớm rào cản kỹ thuật, phòng vệ thương mại, giúp nhiều ngành hàng chủ lực như gỗ, thép, thủy sản tránh được đòn thuế bất ngờ.
Nhưng câu chuyện không dừng ở thế bị động. Bước sang giai đoạn 2026 và xa hơn, theo ông Đỗ Quốc Hưng, các Thương vụ phải chuyển vai từ người quan sát sang người dẫn đường: chủ động dò tìm thị trường ngách tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi, Mỹ Latinh…; tham mưu chính sách sát thực tiễn sở tại; sát cánh cùng doanh nghiệp thích ứng luật chơi mới về xanh hóa và chuyển đổi số.
Hành trình hướng tới tăng trưởng hai con số đang mở ra. Trên con đường ấy, không chỉ có "hoa hồng" mà còn đầy "gập ghềnh" với hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh và những cuộc điều tra phòng vệ thương mại ngày càng khắt khe. Vì vậy, hệ thống Thương vụ phải tiếp tục bắc "những nhịp cầu" vững chắc, nối niềm tin cho doanh nghiệp Việt vươn ra thế giới, để những lô hàng "made in Vietnam" hiện diện khắp năm châu.
Còn nữa....