Tư duy mới mở đường cho đặc sản vùng cao bứt phá
Những năm gần đây, câu chuyện phát triển kinh tế ở miền núi Thanh Hóa không còn được nhìn nhận đơn thuần qua các chỉ số thu nhập hay tỷ lệ hộ nghèo, mà được thể hiện sinh động qua hành trình đổi đời của những hộ dân biết nắm bắt cơ hội, khai thác thế mạnh bản địa và mạnh dạn bước vào kinh tế hàng hóa. Những sản phẩm tưởng như chỉ gói gọn trong bữa ăn của đồng bào vùng cao đã bước ra thị trường rộng lớn, trở thành đặc sản được nhiều khách hàng tìm mua trên các sàn thương mại điện tử.
Tại xã Quang Chiểu, giống nếp Cay Nọi - loại nếp nức tiếng của đồng bào Thái, từng chỉ được trồng để phục vụ bữa ăn gia đình và dịp lễ tết. Trước đây, năng suất thấp, giá trị chưa cao khiến người dân ít mặn mà mở rộng diện tích. Nhưng sự thay đổi đã đến khi chị Lương Thị Nồng, người Thái ở bản Pùng, quyết tâm thành lập hợp tác xã nông lâm Chung Thành, đứng ra tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa.
Gạo nếp dẻo thơm nức tiếng của người Thái là minh chứng rõ nét cho hành trình chuyển mình của nông nghiệp miền núi Thanh Hóa. Ảnh: HTX Nông lâm Chung Thành
Hợp tác xã liên kết hơn 30 hộ dân, hướng dẫn canh tác theo quy trình sạch, cung cấp giống, vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm với giá ổn định quanh năm. Toàn bộ quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản đều được cải thiện, giúp cây lúa nếp vốn quen thuộc trong bữa cơm người Thái trở thành sản phẩm được người tiêu dùng ở nhiều tỉnh thành biết đến.
Chị Nồng chia sẻ: “Trung bình mỗi vụ, hợp tác xã thu hoạch khoảng một trăm tấn lúa nếp, tương đương bảy trăm đến tám trăm triệu đồng. Nông dân lãi 3-3,5 triệu đồng mỗi sào một vụ, cao gấp nhiều lần so với trước”.
Từ khi được tiếp cận với các chương trình đào tạo của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Thanh Hóa, hợp tác xã Chung Thành có điều kiện kết nối với các hệ thống phân phối ở miền xuôi, tham gia nhiều hội chợ thương mại, được tập huấn kỹ năng quản lý và ứng dụng thương mại điện tử. Nhờ vậy, nếp Cay Nọi dần trở thành một thương hiệu đặc sản của vùng cao Thanh Hóa và có mặt tại nhiều siêu thị, cửa hàng đặc sản trong và ngoài tỉnh.
Liên kết sản xuất mở ra con đường làm giàu mới
Nếu nếp Cay Nọi và thịt trâu gác bếp là câu chuyện của người Thái, thì ở xã Trung Lý, người Mông lại có niềm tự hào riêng. Đó là giống gà đen bản Khằm. Trước đây, gà đen chỉ được nuôi nhỏ lẻ, phục vụ bữa ăn gia đình hoặc bán trong chợ phiên. Thế nhưng khát vọng làm giàu từ chính con giống bản địa đã đưa anh Giàng A Vành, Bí thư chi bộ bản Khằm 2, trở thành người tiên phong.
Từ vài chục con nuôi thử nghiệm, anh Vành mạnh dạn đầu tư lò ấp trứng, xây dựng khu giết mổ đảm bảo vệ sinh và đóng gói sản phẩm hút chân không. Mỗi lứa gà xuất bán mang lại nguồn thu cao chưa từng có tại vùng biên giới này. “Trung bình mỗi lứa, tôi thu lãi hơn hai trăm triệu đồng, một con số mà trước đây không ai nghĩ có thể đạt được khi chỉ trông vào nương ngô, nương sắn”, anh Vành chia sẻ.
Thay vì giữ kinh nghiệm cho riêng mình, anh vận động hơn 20 hộ dân cùng tham gia sản xuất theo chuỗi liên kết. Các hộ được hỗ trợ con giống, kỹ thuật chăn nuôi và có đầu ra ổn định nhờ hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Nhờ vậy, thu nhập của mỗi hộ tăng gấp hai đến ba lần so với trước kia.
Các đặc sản xứ Thanh ngày càng được biết đến rộng rãi và được mọi người yêu thích, tin dùng. Ảnh: S.M
Theo ông Trần Văn Thắng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trung Lý, việc sản phẩm của người dân được chuẩn hóa và xây dựng thương hiệu đã góp phần quảng bá hình ảnh vùng cao biên giới Thanh Hóa ra cả nước. Mô hình gà đen bản Khằm trở thành minh chứng rõ nhất cho việc người dân có thể làm giàu từ đặc sản bản địa khi có liên kết, có tư duy sản xuất hàng hóa và có thị trường tiêu thụ rõ ràng.
Trong khi vùng cao mạnh lên nhờ đặc sản bản địa, vùng đồng bằng Thanh Hóa cũng chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của các mô hình hợp tác xã liên kết sản xuất. Tại xã Hoằng Lộc, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hoằng Thành, liên kết với doanh nghiệp trồng 40ha khoai tây và 4ha dưa kiếm Nhật xuất khẩu. Mô hình ba bên gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân vận hành hiệu quả, tạo vùng nguyên liệu ổn định và đem lại thu nhập bền vững.
Ông Lương Quốc Đạt, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, cho biết: “Người dân không còn lo đầu ra, hợp tác xã có nguồn cung ổn định cho doanh nghiệp, còn doanh nghiệp đảm bảo được vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Mô hình liên kết ba bên đã giúp cả ba cùng có lợi, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân”.
Sự vào cuộc đồng bộ của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã tỉnh Thanh Hóa đã thúc đẩy các mô hình này lan tỏa mạnh mẽ. Những chương trình hỗ trợ vốn vay ưu đãi, đào tạo chuyển đổi số, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm trên sàn thương mại điện tử giúp nông dân tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm.
Với sự hỗ trợ của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và nỗ lực của chính quyền cùng người dân, Thanh Hóa đang từng bước xây dựng nền nông nghiệp xanh, thông minh và bền vững, nơi mỗi sản phẩm không chỉ mang giá trị kinh tế, mà còn chứa đựng tinh hoa văn hóa và niềm tự hào của đồng bào miền núi đang vươn lên làm giàu trên chính quê hương mình.