Đóng

NSND Vương Duy Biên: Xây dựng cơ chế đặc thù 'hút' đầu tư cho điện ảnh

Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên cho rằng, cần xây dựng cơ chế đặc thù nhằm thu hút nguồn lực xã hội, nguồn lực quốc tế, qua đó tạo động lực mới cho điện ảnh Việt Nam phát triển.

Sự sôi động của thị trường điện ảnh thời gian qua cho thấy, khán giả trong nước ngày càng quan tâm tới phim Việt. Doanh thu tăng, số lượng phim ra rạp nhiều hơn, nhà đầu tư cũng nhập cuộc mạnh mẽ. Tuy nhiên, điện ảnh Việt Nam không thể chỉ dựa vào hiệu ứng phòng vé ngắn hạn mà cần một chiến lược phát triển bền vững, đủ sức cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa. 

Nhân kỷ niệm 73 năm ngày Điện ảnh Việt Nam (15/3/1953 - 15/3/2026), phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với Nghệ sĩ nhân dân (NSND) Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam xoay quanh vấn đề này.

NSND Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Tiềm năng lớn

- Thưa ông, thời gian gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực về doanh thu và sự quan tâm của khán giả. Theo ông, đâu là những yếu tố cốt lõi tạo nên chuyển biến này? Liệu đó đã là sự phát triển bền vững hay mới chỉ dừng ở hiện tượng thị trường?

NSND Vương Duy Biên: Tôi chưa dám đưa ra một đánh giá tổng thể. Thời gian gần đây, bộ phim "Mưa đỏ" đã tạo nên dấu ấn khi đạt doanh thu hơn 700 tỷ đồng - một con số kỷ lục đối với điện ảnh Việt Nam. Thành công này cho thấy chất lượng của bộ phim được khán giả ghi nhận, đồng thời việc lựa chọn thời điểm ra rạp cũng rất thuận lợi. Trong bối cảnh thị trường đang có sự quan tâm lớn của công chúng, bộ phim đã tận dụng được cơ hội và đạt doanh thu bán vé ấn tượng.

Tuy nhiên, để một hiện tượng như vậy trở thành xu hướng lâu dài của điện ảnh Việt Nam cần có quá trình bài bản. Từ thành công của "Mưa đỏ" cũng như một số tác phẩm khác, các cơ quan quản lý, giới làm văn hóa và những người hoạch định chính sách cần suy nghĩ nghiêm túc về chiến lược dài hạn cho ngành điện ảnh.

Điện ảnh muốn phát triển ổn định cần có hệ thống chính sách phù hợp, cơ chế đặt hàng rõ ràng cùng các hoạt động truyền thông hiệu quả để hỗ trợ cho các tác phẩm chất lượng. Khi những yếu tố này được triển khai đồng bộ, điện ảnh Việt Nam mới có thể củng cố vị thế tại thị trường trong nước và từng bước mở rộng ra thị trường quốc tế.

Chỉ khi phim Việt tìm được con đường xuất khẩu ra nước ngoài, ngành điện ảnh mới có cơ sở để kỳ vọng vào một hành trình phát triển dài hơi.

Hậu trường phim "Mưa đỏ". Ảnh: ĐPCC

- Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất của điện ảnh Việt Nam hiện nay? Cần ưu tiên tháo gỡ ở khâu nào để tạo đột phá?

NSND Vương Duy Biên: Tôi không tham gia quá sâu vào những công việc cụ thể của ngành điện ảnh, tuy nhiên nhìn ở góc độ tổng thể có thể thấy tiềm năng phát triển điện ảnh của Việt Nam rất lớn. Đất nước ta có bờ biển dài hơn 3.200 km, sở hữu nhiều cảnh quan đa dạng với núi, rừng, đồi và biển. Với điều kiện tự nhiên như vậy, nhiều địa phương hoàn toàn có thể trở thành bối cảnh lý tưởng để xây dựng phim trường và sản xuất các tác phẩm điện ảnh quy mô lớn.

Bên cạnh lợi thế về cảnh quan, Việt Nam còn có nguồn tư liệu lịch sử phong phú. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử với nhiều cuộc kháng chiến từ thời kỳ xa xưa đến cận đại chống thực dân, đế quốc... đây là chất liệu rất giá trị cho điện ảnh. Tuy nhiên, số lượng tác phẩm khai thác hiệu quả nguồn tư liệu này vẫn còn hạn chế. Cho đến nay, điện ảnh Việt Nam vẫn thiếu những bộ phim chiến tranh thật sự hấp dẫn và có sức lan tỏa rộng rãi.

Theo tôi, nguyên nhân nằm ở việc thiếu nguồn nhân lực sáng tạo nổi bật và chưa có sự đầu tư đủ tầm để phát triển điện ảnh như một ngành công nghiệp. Thời gian gần đây đã xuất hiện một số bộ phim tạo được dấu ấn như "Mưa đỏ" cùng một vài tác phẩm khác nhưng nhìn tổng thể vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng.

Thực tế, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào Việt Nam cũng có thể tạo ra những bộ phim hay, kể cả các tác phẩm lịch sử quy mô lớn. Tuy nhiên, để hình thành thị trường điện ảnh mạnh trong nước và từng bước vươn ra quốc tế, yếu tố chính sách đóng vai trò rất quan trọng. Các cơ chế liên quan đến phát hiện và trọng dụng nhân tài cũng như chính sách để phát huy và khai thác nguồn lực sáng tạo hiện vẫn chưa thật sự đầy đủ.

Vì vậy, theo tôi, điện ảnh Việt Nam cần một bước đột phá về tư duy và nhận thức. Chỉ khi xây dựng được một chiến lược phát triển mới, tạo điều kiện thu hút và phát huy tài năng trong nước, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, ngành điện ảnh mới có cơ hội phát triển mạnh hơn.

Ngôi làng thổ dân trong phim "Kong: Skull Island" lấy bối cảnh ở tỉnh Ninh Bình.

Tạo giá trị lan tỏa nhiều ngành kinh tế

- Như ông vừa đề cập về mối liên hệ giữa điện ảnh với du lịch và hoạt động quảng bá hình ảnh quốc gia. Theo ông, cần đặt mối quan hệ giữa điện ảnh với du lịch, quảng bá văn hóa Việt Nam cùng các lĩnh vực sáng tạo như âm nhạc và thời trang như thế nào để tạo ra giá trị lan tỏa lớn hơn cho nền kinh tế?

NSND Vương Duy Biên: Thực tế điện ảnh, thời trang và nhiều sản phẩm văn hóa khác đều có thể góp phần tạo sức hấp dẫn cho du lịch. Điện ảnh với khả năng lan tỏa mạnh mẽ thường tạo ra những điểm đến mới khi bối cảnh phim trở thành địa điểm tham quan. Ví dụ như khi Việt Nam đón đoàn làm phim Mỹ thực hiện bộ phim "Kong: Skull Island", nhiều bối cảnh quay sau đó đã được giữ lại và trở thành điểm du lịch thu hút du khách.

Mô hình này đã được nhiều quốc gia khai thác hiệu quả. Tại Trung Quốc, nhiều trường quay gắn với các bộ phim nổi tiếng cũng trở thành điểm tham quan quen thuộc của du khách. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều tác phẩm điện ảnh đủ sức lan tỏa trên phạm vi quốc tế để thu hút du khách tìm đến các bối cảnh quay.

Vì vậy, theo tôi, Việt Nam có thể tính tới hướng đi chủ động hơn đó là mời các hãng làm phim lớn trên thế giới đến quay phim tại Việt Nam. Những bộ phim có tầm ảnh hưởng được thực hiện tại đây các bối cảnh quay hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Trước đây, đã có những ví dụ cho thấy hiệu ứng tích cực từ các bộ phim nước ngoài quay tại Việt Nam như "Điện Biên Phủ", 'Người tình" hay "Đông Dương". Thời điểm những bộ phim này được công chiếu tại Pháp, tôi chứng kiến rất đông khán giả xếp hàng mua vé. Sau đó, lượng khách du lịch từ châu Âu, đặc biệt từ Pháp đến Việt Nam tăng rõ rệt trong những năm tiếp theo.

Những bộ phim này không phải do Việt Nam sản xuất nhưng hiệu ứng quảng bá hình ảnh đất nước vẫn rất rõ ràng. Vì vậy, theo tôi Việt Nam cần huy động nhiều nguồn lực khác nhau để phát triển các dự án điện ảnh quy mô lớn, bao gồm nguồn lực từ Nhà nước, khu vực tư nhân và cả vốn quốc tế. Khi có những bộ phim chất lượng và có sức lan tỏa, điện ảnh hoàn toàn có thể tạo ra hiệu ứng tích cực cho du lịch và góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.

NSND Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương. Ảnh: Thái Mạnh

-  Theo ông, việc thu hút đầu tư tư nhân quy mô lớn vào điện ảnh sẽ có tác động như thế nào?

NSND Vương Duy Biên: Nguồn lực tư nhân đầu tư vào điện ảnh hiện nay khá lớn. Nhiều nhà đầu tư sẵn sàng đặt cược vào một bộ phim với kỳ vọng tác phẩm đó có thể bán vé thành công trên thị trường. Có những người đạt được thành công lớn nhờ điện ảnh, song cũng có trường hợp gặp rủi ro tài chính khi bộ phim không đạt doanh thu như kỳ vọng. Điều này cho thấy điện ảnh là lĩnh vực sáng tạo gắn với mức độ cạnh tranh và rủi ro cao.

Trong bối cảnh đó, việc mở rộng các nguồn lực xã hội cho điện ảnh có ý nghĩa rất quan trọng. Bên cạnh nguồn lực trong nước từ doanh nghiệp và khu vực tư nhân, Việt Nam cũng cần tính tới khả năng thu hút thêm các nguồn lực từ bên ngoài. Để làm được điều này cần xây dựng các chính sách phù hợp nhằm khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, công nghiệp văn hóa trong đó có điện ảnh.

Nếu tận dụng tốt các nguồn lực xã hội và quốc tế, đây sẽ là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.

- Xin cảm ơn ông!

Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 xác định vai trò tiên phong của điện ảnh, coi điện ảnh là công nghiệp mũi nhọn.

Năm 2026 được dự báo phim Việt sẽ có tiến xa khi bứt phá cả về số lượng tác phẩm và nhiều dự án chất lượng được đầu tư sản xuất. Chỉ trong mùa phim tết Nguyên đán, có 3/4 phim thắng lớn, doanh thu vượt trên 100 tỷ đồng.

Nguyên Thảo (thực hiện)