Đóng

Phát triển sản phẩm đặc trưng, nâng giá trị sản phẩm vùng dân tộc thiểu số

Từ cây chè Phú Lương đến sâm Lai Châu, phát triển sản phẩm đặc trưng gắn với liên kết sản xuất, nâng chất lượng và mở rộng thị trường đang tạo thêm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số.

“Đánh thức” giá trị từ những sản vật quê hương

Ở những vùng núi còn nhiều khó khăn, cây chè hay cây sâm không chỉ mang lại nguồn thu nhập mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế gắn với lợi thế bản địa. Khi sản phẩm được đầu tư bài bản từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, giá trị nông sản được nâng lên, tạo thêm động lực để người dân gắn bó với quê hương.

Tại xã Hợp Thành, tỉnh Thái Nguyên, cây chè đã bén rễ từ năm 1945, qua nhiều thế hệ trở thành cây trồng chủ lực và nguồn sinh kế của bà con dân tộc Thái địa phương, trong đó có đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số. Toàn xã hiện có hơn 4.100 ha chè, sản lượng hàng chục nghìn tấn mỗi năm, đóng góp tới 35% giá trị sản xuất nông nghiệp địa phương.

Trà tôm nõn Hương Quê là một sản phẩm của HTX Nông sản Phú Lương

Thế nhưng, lợi thế về diện tích và sản lượng chưa đồng nghĩa với giá trị kinh tế tương xứng. Trước đây, nhiều hộ dân chủ yếu sản xuất dựa vào kinh nghiệm truyền thống, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, khiến năng suất, chất lượng chè còn hạn chế. Sản phẩm phần lớn tiêu thụ qua thương lái nhỏ lẻ, giá cả bấp bênh, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống người trồng chè.

Từ thực tế đó, ông Tống Văn Viện, Giám đốc HTX Nông sản Phú Lương (xóm Khau Lai, xã Hợp Thành), người dân tộc Tày, đã lựa chọn một hướng đi khác: thay đổi cách sản xuất và tiếp cận thị trường để nâng cao giá trị cây chè quê hương. Bắt đầu từ việc mang chè của gia đình giới thiệu, bán cho bạn bè khi còn là sinh viên, ông từng bước tìm hiểu phương thức kinh doanh mới, xây dựng kênh bán hàng trực tuyến và tham gia các khóa học về nông nghiệp, kinh doanh. Năm 2013, sau khi xây dựng được nền tảng phân phối riêng, ông quyết định trở về quê phát triển sản phẩm chè.

Từ khát vọng ấy, HTX Nông sản Phú Lương từng bước hình thành mô hình liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Thay vì để từng hộ tự xoay xở với đầu ra, HTX trực tiếp quản lý 6 ha vùng nguyên liệu, đồng thời liên kết thêm 50 ha với người dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… địa phương. Các khâu sản xuất được kiểm soát chặt chẽ, quy trình từng bước chuẩn hóa theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

Đáng chú ý, HTX sử dụng phân bón hữu cơ được ủ từ phân trâu kết hợp vi sinh, đồng thời phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Phụ phẩm nông nghiệp được thu gom, chế biến thành phân hữu cơ rồi quay trở lại phục vụ vùng chè. Mỗi năm, HTX sản xuất khoảng 100 tấn phân hữu cơ vi sinh, vừa phục vụ các vườn chè của mình, vừa cung cấp cho những hộ liên kết.

Bà Tăng Thị Phương Thanh (ngoài cùng bên trái) giới thiệu về các sản phẩm sâm Lai Châu

Một hướng đi khác đang được hình thành tại Lai Châu, nơi cây sâm bản địa được phát triển dưới tán rừng tự nhiên. Với HTX Nông nghiệp bản địa Thu Ka (bản Thu Lũm, xã Thu Lũm), sâm Lai Châu không chỉ là sản phẩm dược liệu có giá trị mà còn là hướng tạo sinh kế gắn với bảo vệ tài nguyên rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo bà Tăng Thị Phương Thanh, Giám đốc HTX Nông nghiệp bản địa Thu Ka, phần lớn diện tích trồng sâm của HTX được phát triển cùng cộng đồng địa phương, trong đó có bà con đồng bào dân tộc Mường, Dao… tại bản Thu Lũm, xã Thu Lũm. Hoạt động trồng sâm dưới tán rừng được thực hiện theo phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, gắn phát triển sản phẩm với quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Nếu trước đây bà con chủ yếu trồng lúa nương, trồng ngô với giá trị kinh tế còn hạn chế, việc tham gia chuỗi liên kết phát triển sâm đã mở thêm cơ hội việc làm từ chăm sóc, bảo vệ vùng trồng và các hoạt động liên quan. Cộng đồng địa phương còn được hưởng lợi từ hoạt động thương mại của sản phẩm; một phần lợi nhuận được trích lại để hỗ trợ bảo vệ và phát triển vùng nguyên liệu.

Từ nâng chất lượng đến mở rộng thị trường tiêu thụ

Để sản phẩm vùng dân tộc thiểu số tạo ra giá trị bền vững, chất lượng phải đi cùng khả năng tiêu thụ. Đây cũng là bước chuyển quan trọng trong cách làm của các hợp tác xã, từ tập trung sản xuất sang chủ động xây dựng thị trường và phát triển sản phẩm theo nhu cầu người tiêu dùng.

Tại HTX Nông sản Phú Lương, bà con được hỗ trợ kỹ thuật, đồng thời có đầu ra thông qua hoạt động thu mua của HTX. Giá chè tươi được nâng từ mức 24.000-28.000 đồng/kg lên 30.000-40.000 đồng/kg. HTX cam kết thu mua toàn bộ sản phẩm nếu đáp ứng đúng yêu cầu của doanh nghiệp.

Hiện mô hình tạo việc làm cho khoảng 50 lao động, với thu nhập 5-7 triệu đồng/người/tháng. Những con số này cho thấy vai trò của việc tổ chức lại sản xuất và chủ động đầu ra trong nâng cao hiệu quả kinh tế từ cây trồng truyền thống.

Cùng với việc cải thiện chất lượng, HTX chú trọng đa dạng hóa hình thức đóng gói, thường xuyên thay đổi mẫu mã, nhãn mác và dán tem truy xuất nguồn gốc. Các kênh bán hàng trực tuyến như Zalo, Facebook, TikTok được đẩy mạnh, giúp sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng ở nhiều địa phương. Chè Phú Lương hiện đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành phía Bắc, trong đó có Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên.

Hướng đi ra thị trường quốc tế cũng được thúc đẩy. Năm 2025, HTX ký kết hợp tác với đối tác thông qua phía Nhật Bản, đồng thời xúc tiến thị trường Đài Loan (Trung Quốc). Giá bán sản phẩm hiện dao động từ 400.000-600.000 đồng/kg, dòng cao cấp lên tới 2 triệu đồng/kg. HTX cũng đang hướng tới hoàn thiện vùng chè hữu cơ 1 ha, với kỳ vọng nâng giá trị sản phẩm lên các mức cao hơn.

Các sản phẩm sâm Lai Châu được giới thiệu đến người tiêu dùng Thủ đô

Trong khi đó, với sâm Lai Châu, xây dựng niềm tin thị trường bắt đầu từ sự minh bạch về nguồn gốc. Theo bà Tăng Thị Phương Thanh, truy xuất nguồn gốc là yêu cầu quan trọng đối với các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là đặc sản địa phương. Các vùng trồng sâm của HTX đều được cấp mã số vùng trồng và chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan chức năng.

HTX Thu Ka đồng thời đầu tư bao bì, hình ảnh nhận diện mang dấu ấn núi rừng Lai Châu; duy trì hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tham gia hội chợ và diễn đàn quảng bá sản phẩm. Đơn vị cũng phối hợp với các nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá giá trị của sâm Lai Châu nhằm nâng cao uy tín trên thị trường.

Hiện sản phẩm của HTX được phân phối qua hệ thống đại lý, showroom tại Hà Nội và các kênh thương mại điện tử. Từ sâm củ, sâm ngâm mật ong đến chè lá sâm, việc đa dạng hóa sản phẩm giúp mở rộng cách tiếp cận người tiêu dùng, đưa đặc sản vùng cao đến gần hơn với thị trường ngoài địa phương.

Tuy nhiên, con đường phát triển sản phẩm sâm Lai Châu vẫn còn những thách thức. Theo đánh giá của tỉnh, nghiên cứu khoa học về sâm chưa toàn diện, sản phẩm chế biến còn hạn chế, chưa có sản phẩm chế biến sâu mang tính đột phá; thị trường tiêu thụ chưa định hình rõ và các kênh phân phối còn nhỏ lẻ. Đây là những vấn đề cần tiếp tục được giải quyết để nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng sức tiêu thụ.

Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 19/5/2024 của Tỉnh ủy Lai Châu về phát triển sâm Lai Châu giai đoạn 2024-2030, định hướng đến năm 2035 đặt mục tiêu đến năm 2030, sản lượng khai thác sâm đạt khoảng 30 tấn mỗi năm, bảo đảm nguồn gốc xuất xứ và đạt tiêu chuẩn GACP-WHO hoặc tương đương. Xa hơn, đến năm 2035, sâm Lai Châu cùng với sâm Việt Nam hướng tới trở thành ngành hàng mang thương hiệu quốc gia, có giá trị xuất khẩu cao.

Khi bà con đồng bào dân tộc thiểu số được tham gia chuỗi liên kết, được hỗ trợ kỹ thuật và có đầu ra ổn định, những sản vật gắn bó lâu đời với núi rừng có thêm cơ hội trở thành hàng hóa mang giá trị cao. Đó cũng là con đường để sản phẩm đặc trưng phát huy lợi thế bản địa, tạo việc làm, nâng thu nhập và giúp đồng bào dân tộc thiểu số từng bước cải thiện đời sống ngay trên quê hương mình.

Bảo Ngọc