Đóng

RCEP tạo cơ hội, nông sản thương hiệu Việt cần bứt phá

Theo chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thuỷ, Hiệp định RCEP giúp hàng hóa, nông sản dịch chuyển từ các thị trường đơn lẻ để bước vào một không gian thị trường rộng lớn.

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) được ký kết ngày 15/11/2020 giữa 10 nước ASEAN và 5 nước đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2022. Đến nay, Hiệp định RCEP đã có hiệu lực với toàn bộ 15 nước ký kết. Với sự tham gia của 15 nền kinh tế năng động trong khu vực, RCEP được xem là khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới. Quy mô này mở ra không gian thị trường rộng lớn và nhiều cơ hội mới cho thương mại, đầu tư, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. 

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy đã có cuộc trao đổi với Báo Công Thương về những giải pháp để hàng hóa, trong đó có nông sản Việt Nam khai thác, tận dụng hiệu quả hơn các cơ hội mà Hiệp định RCEP mang lại.

Hiệp định RCEP mở ra không gian thị trường rộng lớn và nhiều cơ hội mới cho thương mại, đầu tư, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Nông sản Việt trước ba cơ hội lớn từ RCEP

- Thưa ông, Hiệp định RCEP đang mở ra không gian thị trường rộng lớn cho hàng hóa Việt Nam, trong đó có nông sản. Từ góc độ chuyên gia nông nghiệp, theo ông đâu là cơ hội mà hiệp định này mang lại cho nông sản Việt Nam?

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy: Khi nhìn nhận về cơ hội, chúng ta phải nhìn nó dưới góc độ tạo ra động lực phát triển chứ không phải là những thứ có sẵn để thụ động ngồi chờ. Theo đó, RCEP mang lại cho nông sản Việt ba cơ hội lớn, cụ thể:

Một là, chuyển đổi quy mô và vị thế thị trường. RCEP giúp chúng ta dịch chuyển từ các thị trường nhỏ lẻ đơn lẻ để bước vào một không gian thị trường khổng lồ. Đây vừa là khu vực tiêu thụ, vừa là khu vực sản xuất nông nghiệp lớn nhất thế giới. Cơ hội của Việt Nam là bán được nhiều hàng hơn, đạt giá trị cao hơn và tham gia vào chuỗi giá trị với tư cách là một quốc gia có uy tín, có độ tin cậy cao. 

Hai là, thu hút dòng vốn đầu tư công nghệ cao. Hiệp định tạo ra một sức hút mạnh mẽ đối với dòng vốn đầu tư từ nước ngoài, từ các tập đoàn lớn và cả khu vực kinh tế tư nhân. Sức hút này sẽ thúc đẩy nền nông nghiệp nước nhà chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp xanh. Đồng thời, nó mở ra cơ hội giải phóng năng lực lao động thông qua việc ứng dụng công nghệ vi sinh, lai tạo giống và chỉnh sửa gen sinh học.

Ba là, thúc đẩy cải cách tổ chức sản xuất: Hiệp định RCEP tạo động lực mạnh mẽ để chúng ta quy hoạch lại vùng nguyên liệu đòi hỏi phải có quy trình, tiêu chuẩn, có sự tham gia của doanh nghiệp và tổ chức sản xuất bài bản.

- Như vậy, cơ hội là rất rộng mở, tuy nhiên, theo ông nông sản Việt Nam đang bộc lộ những hạn chế nào khiến cho hàng hóa, sản phẩm gặp khó khăn khi tiếp cận các thị trường trong khu vực RCEP, thưa ông?

Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Theo quan điểm của tôi, Việt Nam hoàn toàn không thiếu nông sản, thậm chí nguồn cung của chúng ta cực kỳ dồi dào, nhưng cái chúng ta vẫn đang thiếu là một hệ thống để biến những nông sản đó thành hàng hóa có tính ổn định cao, bảo đảm nguồn gốc, chất lượng. Bên cạnh đó, Hiệp định RCEP đòi hỏi tiêu chuẩn xuất xứ cực kỳ khắt khe, dù có quy định mở cho phép cộng gộp nguyên liệu trong khối RCEP. Mặt khác, các doanh nghiệp Việt, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu về quản lý xuất xứ và thiếu nguồn nhân lực hiểu luật quốc tế đi cùng hỗ trợ nông dân, hợp tác xã.

Bên cạnh đó, năng lực chế biến sâu của chúng ta còn rất hạn chế, dẫn đến việc khó tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Cùng với đó, khâu liên kết hợp tác còn lỏng lẻo. Sự liên kết giữa các bộ ngành, giữa các ngành hàng và đặc biệt là giữa các hợp tác xã còn nhiều hạn chế. Nếu các tập đoàn lớn như TH true Milk, Vinamilk phát triển lớn mạnh là vì họ tự chủ được vùng nguyên liệu, trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ của chúng ta do liên kết yếu nên phải thu mua gom qua thương lái, dẫn tới khó khăn trong duy trì sản xuất. 

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy.

Đẩy mạnh thông tin về RCEP tới doanh nghiệp

- Để khắc phục những hạn chế, thách thức và tận dụng tối đa cơ hội từ Hiệp định RCEP, theo ông, các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất cần phải thực hiện những thay đổi căn bản nào?

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy: Để đi được con đường dài, bắt buộc chúng ta phải biến lợi thế về sản xuất thành năng lực quản trị chuỗi toàn diện. Quá trình này đòi hỏi chuyển từ sản xuất manh mún sang xây dựng vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn; chuyển từ kiểm tra cuối chuỗi sang kiểm soát từ đầu chuỗi, phải thay đổi bằng cách kiểm soát quy trình sản xuất ngay từ cánh đồng; thay đổi tư duy về tiêu chuẩn, theo đó phải xác định tiêu chuẩn là công cụ cạnh tranh để tạo động lực đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ.

Ngoài ra, phải chuyển từ xuất khẩu theo đơn hàng sang quản trị thị trường dài hạn. Cụ thể, việc chỉ xuất khẩu theo đơn hàng nhỏ lẻ dễ tạo ra tâm lý mùa vụ, thiếu đi chiến lược bài bản. Mặt khác, quản trị dài hạn đòi hỏi phải đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống dữ liệu, hạ tầng phần mềm và kiến thức kinh tế lượng để tính toán chính xác lợi ích cận biên và lợi ích toàn phần. Đồng thời, cần chuyển từ bán nông sản thô sang bán thương hiệu.

- Về mặt thông tin hỗ trợ thực thi Hiệp định RCEP, hiện nay chúng ta đang gặp phải những nút thắt nào và giải pháp cụ thể cho vấn đề này là gì, theo ông?

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy: Thực tế, Việt Nam hoàn toàn không thiếu thông tin về các cam kết của Hiệp RCEP trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, cái thiếu lớn nhất là thông tin đến đối tượng thực thi bị nghẽn ở bốn điểm: không đồng bộ, không đúng người (không đúng địa chỉ người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ), không đến tận đồng ruộng và quan trọng nhất là không chuyển hóa được thông tin thành quyết định của người quản trị. 

Do đó, để giúp doanh nghiệp, ngành hàng tiếp cận, nắm bắt rõ hơn các cam kết, ưu đãi của Hiệp định RCEP, cơ quan quản lý có thể cần xây dựng bản đồ thị trường chi tiết cho từng ngành hàng (như thủy sản, nông sản...). Bản đồ này phải giải đáp chi tiết cho người sản xuất về: nhu cầu thị trường, thuế suất ưu đãi, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc, bao bì, đối thủ cạnh tranh và xu hướng tiêu dùng của từng thị trường đích (ví dụ như các tiêu chuẩn Halal).

Bên cạnh đó, cần thiết xây dựng cổng thông tin RCEP chuyên biệt và thân thiện, thiết kế khoa học, dễ sử dụng cho doanh nghiệp và hợp tác xã, có hệ thống trả lời tự động để giải quyết trực tiếp các câu hỏi thực tế của họ. Ngoài ra, có thể đưa thông tin trực tiếp về thị trường trong khu vực về các vùng nguyên liệu và hợp tác xã. Bởi, nếu thông tin chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp xuất khẩu thì chúng ta mới chỉ đi được nửa chặng đường. Theo đó, phải đưa số liệu và kiến thức về tận đồng ruộng để người nông dân chủ động áp dụng. Doanh nghiệp phải tự đặt câu hỏi thị trường cần gì, mình muốn đến đâu và cần thay đổi những gì để từ đó chủ động tìm hiểu luật pháp, tiêu chuẩn và hành động.

Cùng với đó là tăng cường thiết lập cơ chế cảnh báo sớm tới doanh nghiệp, ngành hàng. Cơ chế này giúp vùng nguyên liệu chủ động phòng ngừa rủi ro về chất lượng, dịch bệnh và biến động sản lượng để quản trị rủi ro một cách chủ động.

Xin cảm ơn ông!

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy nhận định: "Chúng ta phải thay đổi tư duy và quan niệm rằng, Hiệp định RCEP không đơn thuần là một hiệp ước cắt giảm thuế quan, mà thực chất là một không gian kinh tế chung. Đã là một không gian kinh tế chung thì nông sản Việt muốn gia nhập một cách hiệu quả và bền vững theo đúng mong muốn thì bắt buộc phải: mở rộng thị trường, tổ chức lại chuỗi sản xuất xanh để đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường, nâng cao giá trị".

Bảo Thoa (thực hiện)