Đóng

Sản xuất sạch mở đường cho kinh tế tuần hoàn

Sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn đang trở thành động lực mới giúp Việt Nam giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Hoàn thiện chính sách để thúc đẩy “xanh hóa” nền kinh tế

Năm 2026 được xem là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế cho phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Từ góc độ quản lý nhà nước, hàng loạt cơ chế, chính sách mới đang được xây dựng, hoàn thiện và triển khai nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững.

Toàn bộ chai nhựa được làm sạch và phân loại trước khi đưa vào tái chế. Ảnh: Duy Tân Recycling

Trong đó, nhiều chính sách quan trọng đang được thúc đẩy như cơ chế tín dụng xanh, ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), tiêu chuẩn sản phẩm xanh, vật liệu tái chế, cùng lộ trình triển khai thị trường carbon nội địa và thuế carbon. Đây được xem là những “đòn bẩy” quan trọng để doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn.

Theo TS. Lại Văn Mạnh - Trưởng ban Kinh tế, Tài nguyên và Môi trường, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp & Môi trường, nhà nước không chỉ đóng vai trò kiến tạo mà còn là “người dẫn dắt” thị trường thông qua hệ thống chính sách, tiêu chuẩn và công cụ kinh tế. Mục tiêu đặt ra là hình thành hệ sinh thái thuận lợi để doanh nghiệp chuyển đổi xanh, đồng thời tạo động lực cho đổi mới công nghệ và thay đổi phương thức sản xuất.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn và sản xuất sạch hơn  đối mặt với nhiều thách thức. Đầu tiên là chi phí đầu tư lớn khi doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất và hệ thống xử lý môi trường. Bên cạnh đó, hạ tầng thu gom, phân loại và tái chế chất thải còn thiếu đồng bộ; nhận thức của một bộ phận doanh nghiệp và người tiêu dùng về tiêu dùng xanh vẫn chưa đầy đủ. Đặc biệt, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực môi trường, công nghệ xanh và quản trị phát triển bền vững còn thiếu hụt.

Trong bối cảnh năm 2026 được xác định là năm tăng tốc cải cách thể chế và phục hồi kinh tế, các chuyên gia nhận định kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Để thúc đẩy quá trình này, cần đẩy mạnh truyền thông về tiêu dùng xanh; hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; thúc đẩy phát triển thị trường carbon và các công cụ kinh tế xanh; đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp để hình thành chuỗi giá trị tuần hoàn.

Nhiều mô hình sản xuất sạch, tuần hoàn được triển khai mạnh mẽ

Song hành với chính sách, nhiều doanh nghiệp và địa phương đã chủ động triển khai các mô hình sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn với những kết quả rõ nét.

Tại Hải Phòng, Bắc Ninh, mô hình khu công nghiệp sinh thái đang được triển khai thí điểm. Ở đây, chất thải của doanh nghiệp này trở thành nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác. Mô hình cộng sinh công nghiệp này không chỉ giúp giảm đáng kể chi phí xử lý chất thải mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải ra môi trường.

Khu công nghiệp sinh thái DEEPC tại TP Hải Phòng. Ảnh: Thu Hường

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều hợp tác xã đã áp dụng mô hình sản xuất tuần hoàn bằng cách tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi, phân bón hữu cơ hoặc sản xuất năng lượng sinh học. Nhờ đó, doanh nghiệp và người dân vừa giảm chi phí đầu vào, vừa gia tăng giá trị sản phẩm, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh của thị trường.

Các mô hình tái chế, tái sử dụng và kinh tế chia sẻ cũng đang phát triển nhanh tại các đô thị lớn. Hoạt động tái chế rác thải nhựa, sản xuất vật liệu tái chế hay các nền tảng trao đổi - tái sử dụng hàng hóa đang góp phần hình thành hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn ngày càng rõ nét.

Trong ngành vật liệu xây dựng, nhiều doanh nghiệp đã tái sử dụng tro xỉ, xỉ lò cao làm nguyên liệu đầu vào thay thế tài nguyên tự nhiên, qua đó vừa giảm phát thải vừa tiết kiệm chi phí sản xuất.

Điển hình là Tập đoàn SCG Việt Nam. Theo ông Burin Udomsub - Tổng Giám đốc SCG Việt Nam, doanh nghiệp đã chủ động mở rộng danh mục sản phẩm xanh, trong đó 19 dòng xi măng chủ lực đạt chứng nhận EPD theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này giúp khách hàng dễ dàng lựa chọn vật liệu thân thiện môi trường, đồng thời nâng cao uy tín thương hiệu trên thị trường quốc tế.

Để đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, SCG đầu tư đồng bộ nhiều giải pháp giảm phát thải trong sản xuất xi măng. Từ năm 2014, doanh nghiệp đã triển khai hệ thống thu hồi nhiệt thải để tái tạo điện năng, tận dụng khoảng 30% nhiệt lượng phát sinh trong quá trình sản xuất. Giải pháp này giúp tiết kiệm khoảng 60 triệu kWh điện mỗi năm, tương đương giảm khoảng 33.807 tấn CO₂.

Song song đó, doanh nghiệp đẩy mạnh sử dụng nguyên liệu sinh khối thay thế than đá trong công đoạn nung clinker với tỷ lệ thay thế khoảng 30%, giúp giảm nhu cầu sử dụng khoảng 90.000 tấn than mỗi năm, tương đương giảm khoảng 157.715 tấn CO₂. Ngoài ra, việc áp dụng clinker chất lượng cao kết hợp công nghệ phối trộn hiện đại giúp SCG giảm thêm khoảng 141.575 tấn CO₂ mỗi năm. Nhờ đó, lượng phát thải carbon trong sản xuất xi măng của doanh nghiệp hiện giảm khoảng 20% so với phương thức sản xuất thông thường.

Sản phẩm dệt may được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên. Ảnh: Thu Hường

Trong lĩnh vực thực phẩm và dinh dưỡng, Tập đoàn TH cũng là một trong những doanh nghiệp tiên phong triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với sản xuất sạch hơn. TH đầu tư đồng bộ công nghệ hiện đại từ Israel, New Zealand, Nhật Bản, Hà Lan… nhằm kiểm soát chất lượng sản phẩm đồng thời giảm thiểu tác động môi trường.

Một trong những mô hình tiêu biểu của TH là hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi theo chu trình khép kín. Phế phẩm từ trang trại không bị loại bỏ mà được chuyển hóa thành nguyên liệu cho nhà máy sản xuất phân bón vi sinh, sau đó quay trở lại phục vụ đồng ruộng hoặc cung ứng ra thị trường.

Doanh nghiệp cũng đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái tại các trang trại và nhà máy, hiện đáp ứng khoảng 10 - 20% nhu cầu điện năng của cụm trang trại tại Nghệ An. Hệ thống này giúp giảm khoảng 5.000 tấn CO₂ mỗi năm. Đồng thời, mức phát thải bình quân tại Nhà máy sữa tươi TH true MILK hiện chỉ còn khoảng 0,088 kg CO₂/đơn vị sản phẩm, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung của nhiều nhà máy sữa trong khu vực Đông Nam Á.

Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực sản xuất, chuyển đổi xanh còn lan tỏa sang các ngành công nghệ và dịch vụ. Các nền tảng thanh toán số như VNPAY đang góp phần thúc đẩy tiêu dùng xanh thông qua giảm sử dụng tiền mặt, giảm chi phí vận hành và cắt giảm phát thải gián tiếp.

Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ như MISA đang cung cấp các giải pháp quản trị số giúp doanh nghiệp kiểm soát tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu và phát thải. Đây được xem là nền tảng quan trọng để xây dựng mô hình sản xuất tuần hoàn trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang diễn ra song hành.

Thực tế cho thấy, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn không còn là xu hướng mang tính thử nghiệm mà đang dần trở thành “chuẩn mực mới” trong phát triển kinh tế. Năm 2026 được xem là giai đoạn bản lề khi Việt Nam chuyển từ thí điểm sang triển khai trên diện rộng các mô hình sản xuất sạch hơn, giảm phát thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Với sự đồng hành của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội, quá trình “xanh hóa” nền kinh tế không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn mở ra không gian tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thu Hường