Đóng

Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Tạo động lực cho kinh tế xanh

Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 được kỳ vọng giảm thủ tục hành chính, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, thị trường carbon và năng lực cạnh tranh xuất khẩu.

Hướng tới quản lý môi trường theo tư duy mới

Sau hơn 4 năm thực thi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2020 với 5 định hướng chiến lược lớn, tập trung vào cải cách thực chất thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi xanh.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2020 được kỳ vọng tạo "cú hích" cho kinh tế xanh. Ảnh minh họa

Theo đó, nhiều thủ tục liên quan đến phân loại dự án đầu tư, đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường dự kiến sẽ được đơn giản hóa nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Đi cùng với việc cắt giảm thủ tục là cơ chế hậu kiểm và giám sát chặt chẽ, phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp, các ngành.

Dự thảo luật cũng thể hiện sự thay đổi mạnh về tư duy quản lý môi trường khi chuyển từ “xử lý chất thải” sang coi chất thải là “tài nguyên”, tạo hành lang pháp lý cho phát triển công nghiệp môi trường và kinh tế tuần hoàn.

Một định hướng đáng chú ý khác là thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý môi trường thông qua xây dựng hệ sinh thái dữ liệu môi trường đồng bộ, công khai và minh bạch, phục vụ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân.

Bên cạnh đó, dự thảo hướng tới thay đổi cách tiếp cận từ “bị động khắc phục” sang “chủ động phòng ngừa”, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và kiểm soát nguồn thải ngay từ đầu trong bối cảnh tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng nhanh.

Đặc biệt, việc hoàn thiện các công cụ kinh tế, nhất là thị trường carbon, được xem là một trong những nội dung trọng tâm nhằm biến bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trở thành động lực đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tại Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho biết, thế giới đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu rộng với các xu hướng như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và các tiêu chuẩn carbon ngày càng khắt khe. Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng cao nhưng đồng thời yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Do đó, bên cạnh việc cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế cho doanh nghiệp nhưng tuyệt đối không được buông lỏng quản lý môi trường.

Dự thảo luật mới tiếp tục kế thừa nhiều chính sách đột phá của Luật Bảo vệ môi trường 2020 như áp dụng tiêu chí môi trường trong phân loại dự án đầu tư, quản lý chất thải theo hướng tăng tái chế, tái sử dụng và thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Điểm mới của lần sửa đổi này là được xây dựng trên tư duy lập pháp theo hướng luật quy định khung và nguyên tắc, còn các nội dung kỹ thuật sẽ giao Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền quy định để tăng tính linh hoạt trong thực thi.

Tháo gỡ chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp

Quá trình sửa luật hiện nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và các chuyên gia khi nhiều quy định trong thực tế đang phát sinh chi phí lớn cho hoạt động sản xuất.

Liên quan đến xử lý nước thải trong khu công nghiệp, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, quy định doanh nghiệp trong khu công nghiệp phải đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung đang khiến nhiều doanh nghiệp phải xử lý nước thải hai lần.

Doanh nghiệp hiện phải xử lý sơ bộ để đạt tiêu chuẩn cột B trước khi tiếp tục đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung để đạt chuẩn cột A, khiến tổng chi phí xử lý lên tới 18.500 - 28.000 đồng/m3 nước thải. Trong khi đó, nếu doanh nghiệp đầu tư hệ thống xử lý đạt chuẩn cột A ngay từ đầu và được xả trực tiếp ra môi trường thì chi phí chỉ khoảng 5.500 - 10.500 đồng/m3, tiết kiệm đáng kể chi phí sản xuất.

Dù Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã có quy định miễn trừ đấu nối trong một số trường hợp, song hiện vẫn thiếu cơ chế cụ thể để triển khai. VASEP đề xuất bổ sung cơ chế cho phép doanh nghiệp đủ năng lực kỹ thuật, có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn cột A được miễn đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung của khu công nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, kết nối với cơ quan quản lý và chịu trách nhiệm hoàn toàn về chất lượng nước thải đầu ra. Các chuyên gia cho rằng đây là hướng tiếp cận phù hợp với tinh thần quản lý theo rủi ro và thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý hiện đại.

PGS.TS Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Trung ương Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam nhận định, đây là lần sửa đổi thứ năm của Luật Bảo vệ môi trường kể từ năm 1993 và mang ý nghĩa đặc biệt khi gắn trực tiếp với chi phí sản xuất, thị trường carbon và năng lực cạnh tranh quốc gia. Tinh thần lớn nhất của đợt sửa luật lần này là cắt giảm thủ tục hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp nhưng vẫn phải bảo đảm hiệu quả quản lý môi trường. “Việc phân cấp cho địa phương là cần thiết nhưng phải đi kèm cơ chế giám sát phù hợp để tránh chênh lệch trong thực thi chính sách”, ông Tiến nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Trương Mạnh Tiến, Việt Nam cần từng bước tiệm cận các tiêu chuẩn môi trường quốc tế nhằm tránh tình trạng doanh nghiệp phải đồng thời đáp ứng hai hệ tiêu chuẩn khác nhau, gây gia tăng chi phí xuất khẩu. Nếu sửa luật chỉ dừng ở việc gộp thủ tục hành chính thì chưa đủ tạo ra thay đổi thực chất. Điều quan trọng hơn là cần chuyển mạnh sang mô hình quản lý theo phát thải, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tăng tính đồng hành giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, nhiều quy định hiện nay vẫn mang tính “luật khung”, phải chờ thêm nghị định, thông tư hướng dẫn nên thường có độ trễ trong triển khai. Vì vậy, việc sửa luật lần này cần hướng tới xây dựng cơ chế thực thi đồng bộ ngay từ đầu để tránh phát sinh thêm thủ tục và chi phí không cần thiết.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh kinh tế xanh, chuyển đổi carbon thấp và phát triển bền vững đang trở thành xu thế toàn cầu, Luật Bảo vệ môi trường không còn đơn thuần là công cụ quản lý môi trường mà đang dần trở thành một chính sách công nghiệp mới, tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Việc sửa đổi luật lần này vì vậy được kỳ vọng không chỉ tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế mà còn tạo động lực mới cho tăng trưởng xanh, đổi mới công nghệ và nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đây không phải lần đầu Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, nhưng lần sửa đổi này mang ý nghĩa đặc biệt hơn khi không chỉ xử lý các vấn đề ô nhiễm mà còn tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất, thị trường carbon và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Nếu được thiết kế hợp lý, đây sẽ là cú hích cho kinh tế xanh; ngược lại, nếu thiếu đồng bộ, luật có thể tạo thêm thủ tục và làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Nguyễn Hạnh