Đóng

Sửa Luật Điện lực sau 20 tháng: Luật đi trước mở đường - Bài 5: Không để luật chờ nghị định

Bộ Công Thương đã xác định 7 văn bản cần sửa đổi trong năm 2026. Tiến độ ban hành từng văn bản sẽ là thước đo hiệu quả thực thi, để luật không phải chờ nghị định.

Năm 1922, khi chính sách kinh tế mới đã thành luật, Lênin cảnh báo những người chỉ biết "lập ra hết ban này đến ban nọ, chỉ biết có hội họp, bàn cãi suông". Người chỉ ra chỗ quyết định: kiểm tra người làm và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác là "mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay". Người nói thêm, đó "không phải là việc làm trong một vài tháng, hay một năm, mà là việc làm trong nhiều năm".

Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu khi Luật được thông qua cần có hệ thống văn bản hướng dẫn ban hành kịp thời, có hiệu lực đồng bộ và có người chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc triển khai.

Từ nghị quyết đến hóa đơn tiền điện: Chuỗi thực thi phải thông suốt

Chuỗi thể chế của ngành điện có ba mắt xích: Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị định hướng; luật thể chế hóa chủ trương; nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Báo cáo chuyên đề tổng rà soát văn bản về an ninh năng lượng tháng 8/2026 của Bộ Công Thương xác định nhiệm vụ "hoàn thiện thể chế phát triển thị trường điện cạnh tranh, cơ chế mua bán điện trực tiếp, chính sách giá điện, khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới theo Nghị quyết số 70-NQ/TW". Một mắt xích chậm sẽ cản trở cả quá trình đưa chính sách vào cuộc sống, từ đầu tư nguồn, lưới đến từng hóa đơn tiền điện.

Chiều ngày 20/10/2026, Quốc hội nghe tờ trình và thẩm tra các dự án Luật, trong đó có Dự án Luật Điện lực (sửa đổi).

Ngay tại vòng thẩm tra sơ bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải đã nêu yêu cầu: "không để phát sinh khoảng trống pháp lý hoặc tình trạng Luật có hiệu lực nhưng phải chờ văn bản hướng dẫn". Đó cũng là đòi hỏi xuyên suốt của lần sửa đổi này: luật có hiệu lực phải thực hiện được ngay. Yêu cầu ấy không mới, nhưng với một đạo luật phải sửa sau 20 tháng, việc chuẩn bị đồng bộ văn bản hướng dẫn càng cấp thiết, nhằm hạn chế vướng mắc và tránh sớm phải tiếp tục sửa đổi.

Kết luận số 96-KL/TW ngày 20/9/2026 của Bộ Chính trị đặt ra định hướng để Quốc hội khóa XVI giám sát việc thực hiện yêu cầu ấy. Mục tiêu là tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành. Giám sát phải dựa trên dữ liệu, chú trọng cảnh báo, phòng ngừa vi phạm "từ sớm, từ xa", nâng cao trách nhiệm giải trình và tập trung vào những lĩnh vực then chốt.

Năng lượng là một lĩnh vực như vậy, khoảng 44.900 MW nguồn điện chậm tiến độ đang đặt ra yêu cầu cấp bách về tháo gỡ vướng mắc. Nếu văn bản hướng dẫn tiếp tục chậm ban hành, chính sách mới cũng khó phát huy tác dụng. Tư tưởng của Lênin về kiểm tra việc chấp hành và yêu cầu giám sát "từ sớm, từ xa" cùng gợi mở một cách làm: kiểm tra tiến độ soạn thảo, xác định rõ trách nhiệm ngay từ khi chuẩn bị luật, không đợi luật có hiệu lực mới hỏi văn bản hướng dẫn ở đâu.

Tòa nhà Quốc hội - nơi diễn ra các hoạt động lập pháp quan trọng của đất nước

Những thay đổi so với bản trình ban đầu

Dự thảo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/9/2026 gồm 3 điều, sửa đổi, bổ sung 23 điều và bãi bỏ 3 điều của Luật Điện lực số 61/2024/QH15. Về thủ tục hành chính, dự thảo bãi bỏ 3 thủ tục, bổ sung 1 thủ tục mới và sửa đổi 19 thủ tục hiện hành.

Chính sách nào áp dụng ngay, chính sách nào còn chờ?

Dự thảo báo cáo tổng rà soát tháng 8/2026 đếm: "có 07 văn bản đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế thực hiện ngay trong năm 2026 sau khi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực và Luật Dầu khí sửa đổi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực". Theo đó, báo cáo liệt kê 22 văn bản cần sửa, phần gắn với Luật Điện lực  gồm 5 văn bản cùng Thông tư số 60/2025/TT-BCT. 

Như vậy, trong 7 nội dung nêu trên, có 6 nội dung do Bộ Công Thương chủ trì soạn thảo. Đáng chú ý, hai đề án tái cơ cấu ngành điện và tái cơ cấu EVN đã được trình Chính phủ ngày 15/9/2026, tạo cơ sở sửa đổi Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg. Để đẩy nhanh tiến độ thực thi chính sách, cần tiếp tục xác định rõ thời hạn ban hành từng văn bản, gắn với trách nhiệm của cơ quan chủ trì, bảo đảm tính đồng bộ, kịp thời và nâng cao hiệu quả thực thi theo tinh thần Kết luận 96.

Với hộ gia đình, cách tính tiền điện chưa thay đổi ngay khi luật có hiệu lực. Giá điện theo giờ chỉ áp dụng khi có biểu giá mới theo lộ trình tại điểm c khoản 3 Điều 50; trước đó, hộ sinh hoạt vẫn trả tiền điện theo bậc thang. Chính sách hỗ trợ tiền điện từ ngân sách tại điểm c khoản 13 Điều 5 cũng cần Chính phủ quy định cụ thể về đối tượng và nguồn kinh phí để triển khai. Với nhà đầu tư nguồn điện, thủ tục được rút gọn khi quy định bỏ yêu cầu chấp thuận chủ trương đầu tư có hiệu lực. Tuy nhiên, việc áp dụng giá trúng thầu còn phụ thuộc vào khung giá của năm đấu thầu và nghị định sửa đổi Nghị định số 56/2025/NĐ-CP. Chủ đầu tư công trình điện lực khẩn cấp vẫn phải chờ Chính phủ quy định tiêu chí theo khoản 2 Điều 14.

Khách hàng lớn và đơn vị bán lẻ điện trong khu công nghiệp đã có cơ sở tham gia mua bán điện trực tiếp theo Nghị định số 243/2026/NĐ-CP từ ngày 26/6/2026. Với nhóm này, luật sửa đổi tiếp tục củng cố cơ sở pháp lý cho cơ chế đã được triển khai.

Hiểu đúng để giám sát thực thi

Trước hết, luật được thông qua không có nghĩa là giá điện thay đổi ngay. Luật đặt ra khung pháp lý; giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh theo cơ chế của Chính phủ, còn cơ cấu biểu giá thực hiện theo lộ trình tại Điều 50.

Thứ hai, bỏ yêu cầu chấp thuận chủ trương đầu tư không đồng nghĩa với bỏ kiểm soát. Với dự án thuộc diện đấu thầu, việc lựa chọn nhà đầu tư vẫn phải tuân thủ quy định; giá trúng thầu không cao hơn khung giá của năm đấu thầu theo Nghị quyết số 253/2025/QH15. Rút gọn thủ tục đầu tư phải đi cùng kiểm soát chặt việc lựa chọn nhà đầu tư, ký kết và thực hiện hợp đồng.

Thứ ba, cơ chế dành cho công trình điện lực khẩn cấp không tự động áp dụng ngay. Việc triển khai cần tiêu chí do Chính phủ quy định và danh mục được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong khi đó, Bộ Công Thương đang rà soát, thiết lập danh mục các công trình điện cấp bách.

Sau ngày biểu quyết, trọng tâm chuyển từ hoàn thiện câu chữ trong luật sang tổ chức thi hành. Ba đề xuất sau nhằm cụ thể hóa yêu cầu "luật không chờ nghị định", gắn từng nhiệm vụ với tiến độ và trách nhiệm:

Thứ nhất, danh mục văn bản hướng dẫn phải ghi rõ cơ quan chủ trì và thời hạn. Ngay khi luật được công bố, Chính phủ cần ban hành danh mục văn bản quy định chi tiết, xác định cơ quan chủ trì, hạn trình và hạn ban hành từng văn bản. Những văn bản cần thiết để thi hành luật phải có hiệu lực đồng bộ với luật.

Thứ hai, soạn thảo văn bản hướng dẫn song song với chỉnh lý luật. Sáu nội dung do Bộ Công Thương chủ trì cần được chuẩn bị ngay trong quá trình chỉnh lý, cập nhật theo luật được thông qua và sớm công bố dự thảo để lấy ý kiến. Đề án tái cơ cấu ngành điện cần được phê duyệt trước khi trình quyết định thay thế Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg làm cơ sở xác định lộ trình thị trường điện gắn với sắp xếp lại các đơn vị trong ngành.

Thứ ba, giám sát việc thi hành luật từ sớm. Theo tinh thần Kết luận số 96-KL/TW, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường có thể xem xét đưa nội dung này vào chương trình giám sát năm 2027. Giám sát cần dựa trên dữ liệu cụ thể: bao nhiêu văn bản ban hành đúng hạn; bao nhiêu MW trong số 44.900 MW nguồn điện chậm tiến độ đã lựa chọn được nhà đầu tư; bao nhiêu khách hàng đã tham gia mua bán điện trực tiếp. Những chỉ số ấy giúp đánh giá cả tiến độ hoàn thiện thể chế lẫn kết quả thực thi.

Hơn một thế kỷ trước, Lênin coi kiểm tra việc chấp hành thực tế là mấu chốt của chính sách. Hôm nay, Kết luận 96 đặt ra yêu cầu giám sát từ sớm, từ xa. Quốc hội thông qua Luật Điện lực sửa đổi là hoàn thành một bước lập pháp. Bước tiếp theo là ban hành đúng hạn bảy văn bản, xác định rõ trách nhiệm từng cơ quan, từng người, để những thay đổi trong luật đi vào hóa đơn tiền điện của người dân và kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp.

Lâm Vỹ Sơn