Đóng

Sửa Luật Điện lực sau 20 tháng: Luật đi trước mở đường - Bài 2: Xóa bù chéo giá điện, đảm bảo công bằng

Dự luật hướng tới giá điện phản ánh chi phí, hỗ trợ an sinh minh bạch từ ngân sách. Ba nội dung cần làm rõ để vừa thu hút đầu tư, vừa bảo vệ quyền lợi người sử dụng điện.

Ngày 21/12/1954, hơn hai tháng sau ngày tiếp quản Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm, nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ và Nhà máy đèn Bờ Hồ. Người căn dặn: "Tiết kiệm được một cân than, tăng được một kilôoát điện là góp thêm một phần lực lượng đánh vào đế quốc Mỹ". Gần 5 năm sau, trong cuộc trả lời phỏng vấn báo Népdabátxắc (Hunggari) tháng 11/1959, Người cho biết sản lượng điện miền Bắc tăng từ 33 triệu kWh năm 1955 lên mức 200 triệu kWh tính đến cuối năm 1959.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), 9 tháng năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 265,79 tỷ kWh, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2025. Chỉ trong 9 tháng, sản lượng này đã gấp khoảng 1.329 lần mức 200 triệu kWh của miền Bắc năm 1959 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến, công suất đỉnh lên 58.456 MW. Đỉnh phụ tải đã dịch từ buổi trưa sang buổi tối, khi điện mặt trời không còn phát điện. Nếu thời trước, câu hỏi là có đủ điện hay không, thì đến năm 2026, bên cạnh yêu cầu đủ điện còn là ai trả chi phí và trả bao nhiêu cho mỗi kWh ở từng khung giờ.

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực số 61/2024/QH15 (Luật Điện lực sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội chiều 20/10/2026, đặt ra hướng giải quyết: giá điện phản ánh chi phí, trong đó có chi phí theo thời gian sử dụng; chính sách hỗ trợ được bảo đảm bằng ngân sách, xác định rõ đối tượng và kinh phí, từng bước thay thế việc bù chéo giữa các nhóm khách hàng. Chuyển từ hỗ trợ thông qua giá điện sang hỗ trợ minh bạch bằng ngân sách là hướng đi phù hợp, song các quy định cần chặt chẽ hơn để bảo đảm thực thi.

Dự luật hướng tới giá điện phản ánh chi phí, hỗ trợ an sinh minh bạch từ ngân sách.

Từ điện khí hóa đến định giá điện theo giờ

Trong tư duy của Đảng ta, điện không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là nền tảng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Luận điểm của Lênin về chủ nghĩa cộng sản gắn với chính quyền Xô viết và điện khí hóa toàn quốc đã khẳng định vai trò nền tảng của cơ sở vật chất, kỹ thuật đối với sự phát triển đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, để hệ thống điện phát triển bền vững, cùng với đầu tư nguồn và lưới điện, cần xây dựng cơ chế giá điện phản ánh đầy đủ, hợp lý các chi phí sản xuất, truyền tải và phân phối điện.

Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia chỉ rõ những bất cập trong chính sách giá và tình trạng bù chéo giữa một số nhóm khách hàng. Nghị quyết yêu cầu thực hiện giá năng lượng theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, không bù chéo, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội.

Định hướng này phân định rõ hai nhiệm vụ: giá điện phản ánh chi phí cung ứng; chính sách an sinh hỗ trợ đúng đối tượng. Bù chéo qua giá có thể khiến một nhóm khách hàng phải trả thay một phần chi phí cho nhóm khác, trong khi mức hỗ trợ chưa được thể hiện rõ.

Luật Điện lực số 61/2024/QH15 đã đặt ra nguyên tắc "giảm dần, tiến tới xóa bỏ bù chéo giá điện giữa các nhóm khách hàng" tại điểm d khoản 12 Điều 5. Dự luật tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc ấy bằng lộ trình thực hiện và cơ chế hỗ trợ minh bạch hơn, gắn với trách nhiệm bảo đảm của ngân sách nhà nước.

Đây cũng là tinh thần được Bộ trưởng Bộ Công Thương nêu khi trả lời chất vấn tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/8/2024: giá điện theo giờ và giá hai thành phần là những cơ chế góp phần thúc đẩy chuyển dịch năng lượng hợp lý, công bằng. Công bằng không có nghĩa mọi khách hàng trả cùng một mức giá, mà là tiền điện phản ánh chi phí cung ứng cho từng khách hàng, đồng thời có chính sách hỗ trợ rõ ràng cho những người cần được bảo vệ.

Bù chéo giá điện: Khoản hỗ trợ chưa minh bạch

Bù chéo giá điện tồn tại cả giữa các nhóm khách hàng và giữa các vùng miền. Tại hội thảo về thị trường điện tháng 10/2025, ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) nhấn mạnh cơ chế giá là yếu tố cốt lõi của thị trường điện cạnh tranh, đồng thời chỉ ra tình trạng bù chéo theo cả hai chiều này. Hồ sơ Chính phủ trình Quốc hội tháng 10/2026 xác định cần từng bước xóa bỏ bù chéo giá điện giữa các nhóm khách hàng chưa tham gia thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, đồng thời tách bạch chính sách hỗ trợ tiền điện với cơ chế giá. Báo cáo giải trình lưu ý, khi xóa bỏ bù chéo, có nhóm khách hàng sẽ tăng tiền điện, có nhóm sẽ giảm.

Bù chéo khiến việc phân bổ chi phí giữa các nhóm khách hàng thiếu minh bạch. Nếu giá điện còn không bù đủ chi phí, doanh nghiệp điện có thể thiếu nguồn lực đầu tư và bảo dưỡng lưới. Trong báo cáo Electricity 2025, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) phân tích: tại các nước có doanh nghiệp điện tích hợp dọc như Hàn Quốc, Nam Phi và Ả Rập Xê Út, khi giá điện do Nhà nước quy định không phản ánh đầy đủ chi phí, phần chi phí lưới tăng thêm có thể tạo gánh nặng cho ngân sách hoặc doanh nghiệp nhà nước, làm chậm đầu tư và hạn chế bảo dưỡng.

Với Việt Nam, yêu cầu đầu tư lưới càng cấp thiết. Theo ông Nguyễn Xuân Nam, Phó Tổng giám đốc EVN, nhu cầu điện tăng 12 - 15% mỗi năm, trong khi nhiều nước phát triển chỉ khoảng 3%. Nếu duy trì mức tăng này, nhu cầu điện có thể gấp đôi sau khoảng 5 - 6 năm. Vì vậy, giá điện cần phản ánh đúng chi phí cung ứng ở từng khung giờ, khuyến khích khách hàng dịch chuyển phần tiêu thụ có thể điều chỉnh khỏi giờ cao điểm. Nếu thiếu tín hiệu giá phù hợp, hệ thống có thể phải đầu tư thêm nguồn và lưới để đáp ứng phụ tải chỉ tập trung trong vài giờ, làm tăng chi phí mà cuối cùng người sử dụng điện và nền kinh tế phải gánh.

Năm cách phân bổ chi phí điện trên thế giới

Phân bổ chi phí lưới điện là bài toán chung của nhiều quốc gia. Năm cách làm được IEA ghi nhận dưới đây cho thấy sự khác biệt về đối tượng trả chi phí, mức độ minh bạch và cách khuyến khích khách hàng sử dụng điện. Bảng 1 đối chiếu các cách tiếp cận này.

Hai trường hợp Đức và Hà Lan cho thấy thiết kế ưu đãi phí lưới có thể khuyến khích những hành vi khác nhau. Theo Electricity 2025 của IEA, khách hàng công nghiệp tại Đức được giảm phí lưới tới 90% nếu duy trì mức tiêu thụ ổn định; tại Hà Lan, mức giảm tới 65% gắn với việc điều chỉnh sử dụng điện theo nhu cầu hệ thống, góp phần giảm tổng chi phí. "Tiêu thụ đều" là giữ mức sử dụng tương đối ổn định; "linh hoạt" là có thể tăng, giảm hoặc dịch chuyển thời gian dùng điện khi hệ thống cần.

Với Việt Nam, khi điện gió và điện mặt trời ngày càng phát triển, cơ chế giá cần khuyến khích khách hàng điều chỉnh phụ tải phù hợp với khả năng cung ứng và giới hạn của lưới. Giá theo giờ có thể tạo động lực dịch chuyển tiêu thụ khỏi giờ cao điểm. Giá hai thành phần giúp phản ánh riêng chi phí công suất và điện năng; hiệu quả khuyến khích linh hoạt phụ thuộc vào cách xác định công suất tính tiền và cấu trúc biểu giá.

Kinh nghiệm EU bổ sung một yêu cầu quan trọng về bảo vệ người dùng: khách hàng có thể lựa chọn hợp đồng giá động hoặc hợp đồng giá cố định; người dễ tổn thương và người nghèo năng lượng được bảo vệ khỏi bị cắt điện. Tuy nhiên, giá động biến đổi theo thị trường và biểu giá theo các khung giờ định trước là hai cơ chế khác nhau.

Ấn Độ cho thấy cách triển khai theo nhóm khách hàng: quy định năm 2023 đặt mốc áp dụng giá theo giờ chậm nhất từ ngày 1/4/2024 với khách hàng thương mại, công nghiệp có nhu cầu công suất trên 10 kW; các khách hàng còn lại, trừ nông nghiệp, chậm nhất từ ngày 1/4/2025, đồng thời gắn việc áp dụng với công tơ thông minh.

Hồ sơ dự thảo sửa đổi Luật Điện lực của Việt Nam cũng nhấn mạnh điều kiện áp dụng và đánh giá tác động. Tờ trình 819, trang 16, giải thích giá theo giờ chỉ áp dụng với khách hàng sinh hoạt đủ điều kiện; Báo cáo 818, trang 81, yêu cầu nghiên cứu khả năng điều chỉnh tiêu thụ và khả năng chi trả của từng nhóm hộ. Tuy nhiên, đủ điều kiện kỹ thuật chưa đồng nghĩa với tự nguyện lựa chọn. Vì vậy, cần làm rõ hộ gia đình có quyền chọn biểu giá hay không, được cung cấp thông tin so sánh hóa đơn thế nào và được bảo vệ ra sao khi khó dịch chuyển nhu cầu thiết yếu khỏi giờ cao điểm.

Ba thay đổi tác động đến hóa đơn tiền điện

Các sửa đổi về giá điện trong dự thảo sửa đổi Luật Điện lực tập trung vào ba nội dung: từng bước xóa bỏ bù chéo giữa các nhóm khách hàng; xây dựng lộ trình thực hiện trong biểu giá bán lẻ điện; tách chính sách hỗ trợ tiền điện khỏi cơ chế giá. Theo đó, nguồn hỗ trợ có thể từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn tài chính, quỹ hợp pháp, hợp lệ khác, theo quy định của Chính phủ. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm giá điện phản ánh chi phí cung ứng, còn khoản hỗ trợ được xác định rõ đối tượng và nguồn chi.

Giá điện hai thành phần phân biệt hai khoản thanh toán: tiền công suất để bù đắp chi phí duy trì nguồn và lưới điện sẵn sàng phục vụ; tiền điện năng tính theo lượng điện thực tế sử dụng, để bù đắp chi phí sản xuất biến đổi. Có thể hiểu, khách hàng trả một phần cho khả năng được cấp điện và một phần cho số kWh đã dùng. Tuy nhiên, công suất tính tiền dựa trên mức đăng ký hay mức sử dụng thực tế còn phụ thuộc thiết kế biểu giá. Cơ chế phù hợp sẽ khuyến khích khách hàng xác định đúng nhu cầu công suất, hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị vào giờ cao điểm và nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn, lưới điện.

Công tơ điện tử hộ gia đình đo được sản lượng theo khung giờ, điều kiện kỹ thuật để áp giá điện theo giờ. Ảnh minh hoạ.

Nỗi lo phổ biến là xóa bù chéo sẽ làm tăng giá điện sinh hoạt. Tuy nhiên, xóa bù chéo không đồng nghĩa mọi hộ gia đình đều phải trả nhiều hơn. Mục tiêu là đưa giá điện của từng nhóm khách hàng về sát chi phí cung ứng: nhóm đang được bù có thể phải trả cao hơn, nhóm đang bù cho nhóm khác có thể trả thấp hơn. Mức thay đổi cần được tính toán, đánh giá tác động và thực hiện theo lộ trình; người cần hỗ trợ được bảo vệ bằng ngân sách hoặc các nguồn tài chính, quỹ hợp pháp, hợp lệ.

Cũng cần phân biệt xóa bù chéo với điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân. Một việc là phân bổ chi phí giữa các nhóm khách hàng; việc còn lại là xác định mức giá bình quân để bù đắp chi phí cung ứng điện. Hai cơ chế có liên quan nhưng không thể đồng nhất.

Yêu cầu minh bạch càng cấp thiết khi quy mô thị trường điện mở rộng. Theo Báo Công Thương ngày 1/10/2025, khi thị trường phát điện cạnh tranh chính thức vận hành năm 2012, có 31 nhà máy trực tiếp tham gia, tổng công suất 9.212 MW. Đến năm 2025, số nhà máy trực tiếp tham gia thị trường điện tăng lên 118, tổng công suất khoảng 34.080 MW. Tuy nhiên, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, cho biết mới khoảng 38% tổng công suất nguồn điện tham gia thị trường. Để mở rộng cạnh tranh và chuẩn bị cho thị trường bán lẻ, cần làm rõ chi phí mà từng nhóm khách hàng phải trả, đồng thời tách bạch chính sách an sinh với cơ chế giá.

Công suất tham gia thị trường phát điện cạnh tranh tăng từ 9.212 MW năm 2012 lên khoảng 34.080 MW năm 2025.

Những điểm cần làm rõ để chính sách đi vào cuộc sống

Hướng sửa đổi phù hợp với tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW. Để triển khai hiệu quả, cần làm rõ ba vấn đề: đối tượng hỗ trợ, lộ trình xóa bỏ bù chéo và quyền lựa chọn của hộ gia đình.

Các sửa đổi về giá điện trong dự thảo sửa đổi Luật Điện lực tập trung vào ba nội dung: từng bước xóa bỏ bù chéo giữa các nhóm khách hàng; xây dựng lộ trình thực hiện trong biểu giá bán lẻ điện; tách chính sách hỗ trợ tiền điện khỏi cơ chế giá. Ảnh minh hoạ

Thứ nhất, xác định rõ tiêu chí hỗ trợ tiền điện. Quy định hỗ trợ "các đối tượng khách hàng sử dụng điện theo quy định của Chính phủ" tạo dư địa thực hiện chính sách an sinh và khuyến khích phát triển kinh tế. Tuy nhiên, phạm vi rộng cần đi cùng tiêu chí, nguồn kinh phí, thời hạn và trách nhiệm giám sát rõ ràng. Hỗ trợ từ ngân sách không phải bù chéo trong giá điện, nhưng vẫn cần công khai để kiểm soát hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Theo hướng này, hỗ trợ sinh hoạt cần dựa trên tiêu chí an sinh; hỗ trợ sản xuất cần có mục tiêu cụ thể, điều kiện hưởng và thời hạn áp dụng. Kinh nghiệm Hà Lan gợi mở cách gắn ưu đãi phí lưới với việc điều chỉnh tiêu thụ theo nhu cầu hệ thống. Ý kiến thẩm tra sơ bộ cũng yêu cầu phân biệt rõ xóa bỏ bù chéo trong giá điện với hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ chính sách.

Thứ hai, lộ trình cần có mốc thực hiện và căn cứ đánh giá. Khi góp ý dự luật, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị đánh giá tác động tổng hợp của giá theo giờ và lộ trình xóa bỏ bù chéo, thay vì xem xét từng cơ chế riêng biệt. Đây là yêu cầu cần thiết bởi hóa đơn của một khách hàng có thể đồng thời chịu tác động từ nhiều thay đổi.

Cần công bố lộ trình kèm đánh giá tác động đối với từng nhóm khách hàng, có cơ chế cập nhật và giám sát định kỳ. Với hộ gia đình, nên bổ sung các kịch bản tính tiền điện ở mức tiêu thụ 100, 200 và 400 kWh mỗi tháng, kết hợp những cách phân bổ tiêu thụ khác nhau trong ngày. Cùng một lượng điện, hộ có thể dịch chuyển giờ sử dụng và hộ phải dùng điện vào giờ cao điểm có thể chịu tác động khác nhau. Những phép tính cụ thể sẽ giúp người dân hiểu và chuẩn bị cho thay đổi.

Thứ ba, làm rõ quyền lựa chọn biểu giá của hộ gia đình. Điều kiện về đối tượng và hạ tầng đo đếm là cần thiết, nhưng cần phân biệt đủ điều kiện áp dụng với tự nguyện tham gia. Có công tơ đo theo giờ chưa trả lời được câu hỏi: hộ gia đình có được tiếp tục sử dụng biểu giá bậc thang hay chuyển sang biểu giá theo giờ?

Kinh nghiệm EU về quyền lựa chọn hợp đồng giá động hoặc giá cố định là một tham khảo về bảo vệ người dùng, dù giá động và biểu giá theo khung giờ là hai cơ chế khác nhau. Với Việt Nam, có thể cân nhắc quyền lựa chọn trong giai đoạn đầu, kèm công cụ so sánh hóa đơn, thông tin đầy đủ trước khi áp dụng và cơ chế bảo vệ những hộ khó điều chỉnh nhu cầu thiết yếu. Giá theo giờ chỉ tạo cơ hội tiết kiệm khi khách hàng hiểu biểu giá và có khả năng thay đổi cách sử dụng điện.

Bên cạnh đó, nếu bỏ việc liệt kê bốn nhóm khách hàng tại Điều 50, cần có nguyên tắc phân nhóm thay thế rõ ràng. Việc phân nhóm nên dựa trên chi phí cung ứng và đặc điểm sử dụng điện, với tiêu chí công khai, ổn định. Đây là cơ sở để cơ quan quản lý điều chỉnh linh hoạt, đồng thời giúp người dân, doanh nghiệp dự báo được chi phí.

72 năm trước tại Nhà máy điện Yên Phụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc mỗi phần điện tiết kiệm được đều góp sức cho đất nước. Hôm nay, mỗi kWh chuyển dịch khỏi giờ cao điểm có thể giúp giảm áp lực đầu tư nguồn, lưới và chi phí vận hành hệ thống. Dự luật hướng tới đưa tín hiệu chi phí vào hóa đơn, đồng thời tách chính sách an sinh khỏi giá điện bằng nguồn hỗ trợ minh bạch. Làm rõ đối tượng hỗ trợ, lộ trình thực hiện và quyền lựa chọn biểu giá sẽ giúp chủ trương ấy trở thành chính sách người dân hiểu, thực hiện và giám sát được.

Còn nữa...

Có thể khẳng định, giá điện phản ánh đúng chi phí là một điều kiện để mở rộng cạnh tranh. Câu hỏi tiếp theo là: khi người mua được lựa chọn nhà cung cấp, ai bán điện, ai quản lý lưới và làm thế nào để mọi bên tiếp cận lưới công bằng? Bài 3 sẽ làm rõ những điều kiện để thị trường bán lẻ điện cạnh tranh vận hành thực chất, từ tính độc lập của khâu truyền tải đến trách nhiệm bảo đảm cung ứng cho người dân.

Lâm Vỹ Sơn