Đóng

Sức hút BIGBANG và bài toán 'xuất khẩu' sản phẩm văn hóa Việt Nam

Sức hút từ 2 đêm diễn của BIGBANG tại Hà Nội khẳng định tiềm năng kinh tế của thị trường biểu diễn, đồng thời đặt ra bài toán nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu sản phẩm văn hóa Việt.

Phía sau dòng tiền hàng trăm tỷ đồng

Hai đêm 24-25/10/2026 vừa qua, Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình trở thành tâm điểm của thị trường giải trí khi BIGBANG - nhóm nhạc nổi tiếng Hàn Quốc mang chuyến lưu diễn thế giới kỷ niệm 20 năm hoạt động tới Hà Nội. Khoảng 90.000 lượt khán giả trong nước và quốc tế tham dự chương trình, nhiều người vượt hàng trăm km, thậm chí bay sang Việt Nam để thưởng thức những màn trình diễn.

Theo báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, concert của BIGBANG đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của công chúng, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đối với hoạt động du lịch, dịch vụ và quảng bá hình ảnh Thủ đô.

"Sự kiện góp phần quảng bá Hà Nội là điểm đến an toàn đối với du khách quốc tế, tạo cơ hội thúc đẩy tiêu dùng dịch vụ và nâng cao hiệu quả quảng bá hình ảnh thủ đô trên các kênh truyền thông trong nước, quốc tế", Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội nêu trong văn bản tổng kết. Đây cũng là cơ sở để Hà Nội tiếp tục khai thác hiệu quả mối liên kết giữa văn hóa, nghệ thuật, du lịch và kinh tế; từng bước phát triển các sản phẩm du lịch gắn với sự kiện, nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách và gia tăng giá trị từ các hoạt động văn hóa, giải trí quốc tế.

Sức hút show diễn kéo theo nhu cầu tăng cao về du lịch.

Hà Nội từng chứng kiến hiệu ứng tương tự vào tháng 7/2023, khi 2 đêm diễn của BLACKPINK thu hút khoảng 70.000 khán giả. Theo Sở Du lịch Hà Nội, tổng thu từ khách du lịch trong 2 ngày tổ chức chương trình đạt khoảng 630 tỷ đồng.

PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa - Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Giáo dục nhận định những concert của BIGBANG, BLACKPINK đã góp phần thúc đẩy nguồn thu du lịch, dịch vụ hàng trăm tỷ đồng tại Việt Nam, khẳng định tiềm năng kinh tế của ngành công nghiệp biểu diễn.

"Một chương trình có sức hút sẽ kết nối sáng tạo nghệ thuật với công nghệ, du lịch, thương mại, truyền thông và dịch vụ", vị đại biểu Quốc hội phân tích và nhấn mạnh, bên cạnh tiền vé, khán giả còn chi tiêu cho lưu trú, ăn uống, đi lại và mua sắm, qua đó tạo thêm nguồn thu cho nhiều ngành nghề và mở rộng giá trị kinh tế của hoạt động biểu diễn nghệ thuật.

Thành công của BIGBANG, BLACKPINK tại Hà Nội gợi mở bài học về cách Hàn Quốc phát triển công nghiệp văn hóa. Sân khấu hoành tráng chưa đủ lý giải sức hút khiến hàng chục nghìn khán giả sẵn sàng mua vé, di chuyển đường dài để gặp thần tượng. Phía sau đó là quá trình đầu tư lâu dài cho âm nhạc, hình ảnh nghệ sĩ và thương hiệu.

Tại Hàn Quốc, các công ty giải trí tham gia phát hiện tài năng, sản xuất nội dung, quản lý bản quyền và phân phối quốc tế. Doanh thu được mở rộng qua biểu diễn, phát hành âm nhạc, quảng cáo, thời trang và hợp tác thương hiệu. Mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị biến thành công của nghệ sĩ thành lợi thế cạnh tranh cho cả ngành.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp nội dung (gồm nhiều lĩnh vực sáng tạo như âm nhạc, trò chơi điện tử, phát thanh truyền hình, điện ảnh và các sản phẩm nội dung khác) năm 2025 đạt khoảng 14,9 tỷ USD, tăng so với mức 14,1 tỷ USD năm 2024. Kết quả này khẳng định vị thế của Hàn Quốc trên thị trường công nghiệp văn hóa quốc tế, đồng thời minh chứng cho hiệu quả đầu tư phát triển sản phẩm sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Nhìn lại trong nước, thị trường âm nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với nhiều chương trình biểu diễn quy mô lớn, thu hút đông đảo công chúng. Ngay trước concert BIGBANG, 2 đêm diễn "Anh trai vượt ngàn chông gai 2026" tại TP. Hồ Chí Minh ngày 17-18/10 thu hút gần 100.000 khán giả. Theo Ban tổ chức, vé cả 2 đêm đều bán hết với mức giá từ 1-10 triệu đồng.

Thành công của chương trình khẳng định năng lực của nghệ sĩ và doanh nghiệp Việt Nam trong sản xuất, tổ chức những sự kiện giải trí quy mô lớn, đồng thời mở ra cơ hội phát triển thị trường biểu diễn trong nước. Tuy nhiên, sức hút tại thị trường nội địa mới là nền tảng để phát triển công nghiệp văn hóa. Năng lực cạnh tranh lâu dài phụ thuộc vào khả năng xuất khẩu sản phẩm, khai thác quyền sở hữu trí tuệ và xây dựng thương hiệu có giá trị thương mại trên thị trường quốc tế.

Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nghệ sĩ quốc tế nhưng việc đưa thương hiệu âm nhạc Việt ra thị trường nước ngoài vẫn đối mặt với những thách thức về năng lực tổ chức lưu diễn, khai thác bản quyền và phát triển thị trường. Điều này đặt ra yêu cầu hình thành những doanh nghiệp giải trí đủ tiềm lực đầu tư, xây dựng hệ thống sản xuất chuyên nghiệp và mở rộng mạng lưới phân phối quốc tế.

Mục tiêu chiến lược

Phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành mục tiêu chiến lược, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia trong những lĩnh vực có tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang.

Đồng thời định hướng phát triển các tập đoàn công nghiệp văn hóa, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và các tổ hợp sáng tạo tầm vóc quốc tế; xác định nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển văn hóa.

Trước đó, ngày 14/11/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược xác định các lĩnh vực ưu tiên và định hướng hình thành những sản phẩm, dịch vụ văn hóa có giá trị gia tăng cao.

Riêng Hà Nội, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu tỷ trọng công nghiệp văn hóa đạt khoảng 9% GRDP vào năm 2030.

Những mục tiêu này mở ra cơ hội lớn nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển. Công nghiệp văn hóa phải được tổ chức và vận hành theo những nguyên tắc kinh tế hiện đại, có thị trường, có doanh nghiệp đầu tư, có sản phẩm cạnh tranh và có khả năng tạo doanh thu bền vững.

2 đêm concert "Anh trai vượt ngàn chông gai" 2026 diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh đã thu hút gần 50.000 khán giả mỗi đêm. Bên cạnh quy mô dàn dựng và những màn trình diễn sôi động, chương trình năm nay tiếp tục tạo dấu ấn khi mang những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng trẻ.

Tại phiên thảo luận tổ của Quốc hội ngày 18/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh yêu cầu chuyển sức sáng tạo và bản sắc văn hóa Việt Nam thành năng lực sản xuất, kinh doanh để nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Theo thống kê, trong 9 tháng năm 2026, giá trị gia tăng của ngành nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước tăng khoảng 10,17%, cao hơn tốc độ tăng GDP cùng kỳ. Theo đánh giá sơ bộ, công nghiệp văn hóa hiện đóng góp trên 5% GDP. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng kịch bản tăng trưởng công nghiệp văn hóa, đồng thời xác định các tiêu chí thống kê mức đóng góp của lĩnh vực này vào nền kinh tế.

Những số liệu phản ánh dư địa phát triển của công nghiệp văn hóa nhưng cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất và giá trị gia tăng trong nước. Đặc biệt, quyền sở hữu trí tuệ giữ vai trò quyết định đối với khả năng khai thác thương mại lâu dài của sản phẩm sáng tạo. Doanh nghiệp sở hữu bản quyền và phát triển được thương hiệu có điều kiện mở rộng doanh thu khi sản phẩm tiếp tục được sử dụng trên các nền tảng và thị trường khác nhau.

Ngày 12/10/2026, tại lễ công bố Mạng lưới Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh tiếp tục nhấn mạnh định hướng hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có bản sắc, thương hiệu và sức cạnh tranh quốc tế; đồng thời đề nghị cộng đồng doanh nghiệp tham gia phát triển chương trình biểu diễn gắn với du lịch, xây dựng thương hiệu ẩm thực, mở rộng thị trường mỹ thuật Việt Nam và ứng dụng công nghệ trong sáng tạo, phân phối sản phẩm. Đặc biệt, ngay trong năm 2026 cần có những kết quả đầu tiên, gồm "sản phẩm ra thị trường, doanh thu cho doanh nghiệp, thu nhập cho người sáng tạo" và mở rộng cơ hội thụ hưởng văn hóa của người dân.

Ngày 24/10/2026 vừa qua, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Dự thảo gồm 8 chương, 39 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách trọng tâm nhằm giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực và tạo cơ sở pháp lý phát triển ngành. Định hướng xây dựng luật nhấn mạnh việc tiếp cận công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ, phát triển nguồn nhân lực và hình thành các tổ hợp sáng tạo văn hóa.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và cạnh tranh nhấn mạnh, ở góc độ phát triển kinh tế, hoàn thiện thể chế cần gắn với yêu cầu tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh sản phẩm văn hóa. Hiệu quả chính sách phải được thể hiện bằng khả năng huy động nguồn lực xã hội, phát triển thị trường và nâng cao giá trị thương mại của các sản phẩm sáng tạo.

Cùng với phát triển thị trường biểu diễn, công nghiệp văn hóa cần gắn với chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia. Việt Nam sở hữu kho tàng di sản phong phú, nghệ thuật truyền thống đa dạng và đội ngũ nghệ sĩ trẻ giàu tiềm năng. Tuy nhiên, tiềm năng văn hóa chỉ có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế thông qua hoạt động đầu tư, sáng tạo sản phẩm và tổ chức kinh doanh hiệu quả.

"Để chinh phục khán giả quốc tế, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực nghiên cứu thị trường, ứng dụng công nghệ, bảo vệ bản quyền và xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp. Quá trình phát triển sản phẩm phải bảo đảm hài hòa giữa giá trị thương mại, chất lượng nghệ thuật và bản sắc dân tộc", TS. Võ Trí Thành nói và cho rằng, sức cạnh tranh lâu dài của các thương hiệu văn hóa phụ thuộc vào chất lượng sáng tạo, năng lực quản trị và niềm tin của công chúng

Điều đáng suy ngẫm sau concert BIGBANG không phải là Việt Nam có thể đón thêm bao nhiêu ngôi sao thế giới mà là bao giờ những sản phẩm văn hóa Việt Nam đủ sức thu hút hàng chục nghìn khán giả tại các sân vận động nước ngoài, tạo doanh thu quốc tế và góp phần nâng cao vị thế đất nước.

Khả năng chinh phục thị trường quốc tế bằng những sản phẩm sáng tạo mang bản sắc Việt Nam sẽ là thước đo năng lực cạnh tranh và vị thế của công nghiệp văn hóa. Đó cũng là cơ sở để văn hóa thực sự trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng và nâng cao sức mạnh quốc gia.

Nguyên Thảo