Đóng

Tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Sáng 24/10, tiếp tục chương trình tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI, Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình bày Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực

Trình bày trước Quốc hội về nội dung dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, đây là đạo luật mới được xây dựng nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cùng các kết luận, chỉ đạo có liên quan. Việc xây dựng luật xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Theo Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Dự thảo luật được xây dựng dựa trên ba quan điểm chính: tiếp cận công nghiệp văn hóa theo chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế chiến lược của quốc gia; không quy định lại những chính sách đã có trong luật chuyên ngành, thay vào đó, bổ sung quy định đối với những khoảng trống pháp lý, tập trung làm rõ điểm mờ trong tổ chức thực thi và tháo gỡ các điểm nghẽn đã được nhận diện trong pháp luật hiện hành. Đồng thời tập trung quy định những nguyên tắc, cơ chế, chính sách then chốt thuộc thẩm quyền của Quốc hội, tạo khung pháp lý thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời hạn chế phát sinh thủ tục hành chính mới và tăng cường phân cấp, hậu kiểm.

Dự thảo luật gồm 8 chương, 39 điều, tập trung 6 nhóm chính sách chính trọng tâm:

Nhóm 1: Lần đầu tiên quy định phần mềm phục vụ sáng tạo và nền tảng số hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là hạ tầng có chức năng hỗ trợ sáng tạo, đồng thời lưu vết quá trình sáng tạo để chứng minh, bảo hộ và khai thác thương mại. Quy định căn cứ pháp lý rõ hơn đối với việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa và hỗ trợ nâng cao năng lực xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ.

Nhóm 2: Thiết lập quy định về thu hút, phát triển nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa với nội dung trọng tâm là khung năng lực nhân lực theo vị trí việc làm, cơ chế chính sách đặc thù nhằm thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia trong phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa. Quy định về học bổng, miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, tín dụng và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo các ngành công nghiệp văn hóa.

Nhóm 3: Thiết lập quy định mới về tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm khu công nghiệp sáng tạo văn hóa nhằm tạo mô hình hạ tầng tập trung cho phát triển công nghiệp văn hóa. Nội dung trọng tâm quy định về công trình, thiết chế phục vụ công nghiệp văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm khu công nghiệp sáng tạo văn hóa với cơ chế tổ chức hoạt động sự kiện ở trong đó. Quy định về đánh giá hiệu quả đối với hạ tầng và sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa, hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư công trình xây dựng và hạ tầng văn hóa số.

Nhóm 4: Quy định các hoạt động phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị gắn với bản sắc văn hóa Việt Nam.

Nhóm 5: Quy định các nội dung về hình thành sàn giao dịch công nghiệp văn hóa để tạo lập thiết chế trung gian có vai trò kết nối chủ thể sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, sản phẩm, nhà đầu tư và người sử dụng. Đồng thời quy định các nội dung hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã công nghiệp văn hóa, phát triển thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, hỗ trợ phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Nhóm 6: Quy định các nội dung về tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư cho phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khắc phục khoảng trống của pháp luật hiện hành, tạo động lực đủ mạnh để huy động nguồn lực xã hội, hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật.

Rà soát, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban Văn hóa và Xã hội tán thành sự cần thiết ban hành luật. Dự án luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và Ủy ban ghi nhận, đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã chủ động xây dựng báo cáo đánh giá tác động chính sách.

Tuy nhiên, đây là dự án luật được xây dựng mới, xác lập nhiều nội dung, cơ chế, chính sách đặc thù, trong đó có các quy định về ưu đãi, hỗ trợ tài chính, đầu tư tác động trực tiếp đến ngân sách nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trên nhiều lĩnh vực. Do đó, Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đánh giá cụ thể hơn tính khả thi của các chính sách mới, đồng thời nghiên cứu bổ sung quy định về bình đẳng giới, chính sách dân tộc, bảo vệ lao động nữ và trẻ em.

Về bố cục dự thảo luật, Ủy ban Văn hóa và Xã hội cơ bản nhất trí bố cục dự thảo luật, đồng thời đề nghị rà soát, nghiên cứu quy định đầy đủ các nội dung gắn với chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư. Về 6 nhóm chính sách, cơ quan chủ trì thẩm tra cơ bản tán thành và đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách ưu tiên đầu tư phát triển ngành công nghiệp văn hóa mà Việt Nam có thế mạnh, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, lấy chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm.

Đồng thời, Ủy ban Văn hóa và Xã hội lưu ý các vấn đề: về phát triển hệ sinh thái, thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa (từ Điều 8 đến Điều 10); về hỗ trợ sáng tạo, xác lập, xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa (Điều 11, 12); về nhân lực công nghiệp văn hóa (Điều 13 đến Điều 15); về hạ tầng công nghiệp văn hóa (Điều 16 đến Điều 22); về thị trường công nghiệp văn hóa;

Bảo Thoa