Đóng

Tái cơ cấu ngành Công Thương: Nhìn từ chuyển động của doanh nghiệp

Từ nhà máy đến thị trường, doanh nghiệp đang cụ thể hóa mục tiêu tái cơ cấu ngành Công Thương bằng đổi mới sản xuất, chuyển đổi số và nâng sức cạnh tranh.

Doanh nghiệp tiến sâu vào chuỗi giá trị

Tái cơ cấu ngành Công Thương không chỉ được nhận diện qua sự thay đổi tỷ trọng giữa các ngành, những con số tăng trưởng công nghiệp hay quy mô xuất nhập khẩu. Ở một góc nhìn gần hơn, quá trình ấy đang diễn ra ngay trong từng doanh nghiệp, từ cách tổ chức sản xuất, lựa chọn công nghệ, sử dụng năng lượng đến cách doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, tham gia chuỗi cung ứng và từng bước nâng vị trí của mình trong chuỗi giá trị.

Đó cũng là một trong những tinh thần xuyên suốt của Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 28/2/2023. Mục tiêu tổng quát của Đề án là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành Công Thương. Đồng thời tạo lập những động lực tăng trưởng mới gắn với sự chuyển biến về chất của mô hình tăng trưởng. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp cao.

Nhìn từ mục tiêu đó, doanh nghiệp không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà chính là lực lượng trực tiếp chuyển những định hướng tái cơ cấu thành năng lực sản xuất và sức cạnh tranh thực tế của nền kinh tế.

Tái cơ cấu ngành Công Thương không chỉ thể hiện ở chỉ tiêu tăng trưởng mà còn ở khả năng doanh nghiệp Việt làm chủ công nghệ và tạo thêm giá trị.

Một trong những thay đổi rõ nét mà Quyết định số 165/QĐ-TTg đặt ra là chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Với khu vực doanh nghiệp, điều đó đồng nghĩa dư địa tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng nhà xưởng, tăng lao động hay khai thác lợi thế chi phí thấp. Yêu cầu mới là phải đổi mới công nghệ, nâng chất lượng quản trị, sử dụng tài nguyên và năng lượng hiệu quả hơn, tạo ra sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%; giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%; tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp bình quân khoảng 7,5%/năm. Những chỉ tiêu này cho thấy tái cơ cấu không đơn thuần là làm cho khu vực công nghiệp lớn hơn, mà quan trọng hơn là làm cho nền công nghiệp mạnh hơn về năng suất, công nghệ và khả năng tạo giá trị.

Để hiện thực hóa mục tiêu đề ra, Quyết định số 165/QĐ-TTg dành nhiều nội dung cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các chương trình khoa học, công nghệ phải gắn với nhu cầu đổi mới, nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp; ưu tiên nâng cao năng suất, chất lượng trong các ngành công nghiệp, phát triển công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp năng lượng, thương mại điện tử và các sản phẩm, dịch vụ số.

Điều đáng chú ý là cách tiếp cận này đặt doanh nghiệp vào trung tâm của quá trình đổi mới. Công nghệ không còn được nhìn như lĩnh vực tách biệt mà phải đi vào dây chuyền sản xuất, hệ thống quản trị, hoạt động thương mại và từng sản phẩm cụ thể. Khi doanh nghiệp có khả năng hấp thụ công nghệ, làm chủ thiết bị, số hóa quy trình và sử dụng dữ liệu tốt hơn, năng suất mới có thể tăng một cách bền vững.

Ngoài ra, tái cơ cấu cũng thể hiện ngày càng rõ qua cách doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng. Nền công nghiệp có quy mô lớn nhưng phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, linh kiện, máy móc và công nghệ từ bên ngoài sẽ khó tạo được sức bật lâu dài. Bởi vậy, Đề án nhấn mạnh việc nâng cấp, phát triển các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị; tăng liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thúc đẩy nội địa hóa và nâng cao năng lực tự chủ của sản xuất trong nước.

Đây là bước chuyển dịch quan trọng. Nếu trước đây doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi sản xuất chủ yếu ở những công đoạn gia công hoặc cung ứng đơn giản, thì yêu cầu mới là từng bước tiến sâu hơn vào thiết kế, nghiên cứu - phát triển, sản xuất linh kiện và những khâu có giá trị gia tăng cao.

Cùng với đó, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cũng được định hướng theo hướng chọn lọc hơn. Quyết định số 165/QĐ-TTg ưu tiên những dự án FDI có định hướng sử dụng linh kiện sản xuất trong nước, có cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam và đầu tư các trung tâm nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Doanh nghiệp Việt trong dòng chảy tái cơ cấu

Theo TS. Trần Minh Chính, Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (Bộ Công Thương), tái cơ cấu ngành Công Thương vì thế cũng gắn với việc củng cố năng lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là khu vực đông đảo nhưng thường gặp khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực và khả năng tiếp cận thị trường.

Quyết định số 165/QĐ-TTg đặt ra yêu cầu đơn giản hóa quy trình, thủ tục tiếp cận tài chính, tín dụng từ các quỹ và chương trình hỗ trợ; nghiên cứu các chính sách tín dụng ưu đãi cho công nghiệp nền tảng, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp môi trường, doanh nghiệp chuyển đổi số, khởi nghiệp và các dự án tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”, TS. Trần Minh Chính nhấn mạnh.

Tái cơ cấu ngành Công Thương đang được thúc đẩy từ chính doanh nghiệp, qua đổi mới công nghệ, nâng năng suất và mở rộng vị trí trong chuỗi giá trị.

Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính nếu được dẫn đúng hướng sẽ tạo thêm khả năng để doanh nghiệp đầu tư dài hạn, thay vì chỉ tập trung giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn. Đó có thể là khoản đầu tư cho dây chuyền sản xuất tiết kiệm năng lượng, hệ thống quản trị số, phòng nghiên cứu sản phẩm hay việc đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật mới để tham gia chuỗi cung ứng.

Cùng với nâng cấp sản xuất, chuyển động của doanh nghiệp còn diễn ra mạnh mẽ ở thị trường. Đề án xác định phát triển đồng bộ hệ sinh thái xuất nhập khẩu, nâng cao khả năng đáp ứng những quy định, tiêu chuẩn ngày càng cao của các thị trường, từ chất lượng sản phẩm đến môi trường, phát thải carbon và lao động. Trong điều kiện các thị trường lớn liên tục nâng hàng rào kỹ thuật, phát triển xanh không còn chỉ là lựa chọn mang tính hình ảnh mà ngày càng trở thành yêu cầu trực tiếp đối với năng lực cạnh tranh.

TS. Trần Minh Chính cho rằng, doanh nghiệp muốn giữ thị trường không chỉ phải sản xuất được hàng hóa đạt chất lượng, mà còn phải chứng minh được quá trình sản xuất đáp ứng các chuẩn mực mới. Từ truy xuất nguồn gốc, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên vật liệu bền vững đến kiểm kê và giảm phát thải…

Ở thị trường trong nước, sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán số và các mô hình kinh doanh trên nền tảng cũng đang làm thay đổi phương thức doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng. Quyết định số 165/QĐ-TTg đặt yêu cầu hoàn thiện thanh toán không dùng tiền mặt, chứng từ điện tử, thương mại không giấy tờ, tạo điều kiện cho thương mại điện tử, thương mại xuyên biên giới và các mô hình kinh doanh mới trên nền tảng số phát triển.

Những chuyển động đó cho thấy, ranh giới giữa sản xuất và thương mại đang ngày càng thu hẹp. Một doanh nghiệp công nghiệp không chỉ cần giỏi sản xuất; họ còn phải biết tổ chức chuỗi cung ứng, quản trị dữ liệu, xây dựng thương hiệu, kết nối trực tiếp với khách hàng và thích ứng với những kênh phân phối mới”, TS. Trần Minh Chính chỉ ra.

Từ góc nhìn này, tái cơ cấu ngành Công Thương không phải quá trình nằm ngoài doanh nghiệp. Nó hiện diện trong từng quyết định đầu tư dây chuyền mới, thay đổi công nghệ cũ, tham gia chuỗi cung ứng, chuyển sang sử dụng năng lượng hiệu quả hơn hay bước vào thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn. Chính những chuyển động như vậy sẽ tạo nên sự chuyển dịch lớn của toàn ngành.

Quyết định số 165/QĐ-TTg đã xác lập hướng đi khá rõ là tăng trưởng của ngành Công Thương phải ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, liên kết chuỗi và phát triển bền vững. Để hướng đi ấy trở thành kết quả thực tế, bên cạnh môi trường chính sách thuận lợi, nguồn lực hỗ trợ và hạ tầng đồng bộ, yếu tố quyết định vẫn là khả năng chủ động thay đổi của cộng đồng doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể làm chủ nhiều hơn công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn và đứng vững hơn trước những tiêu chuẩn mới của thị trường, tái cơ cấu ngành Công Thương sẽ không còn là những mục tiêu được đo chủ yếu bằng tỷ trọng hay tốc độ tăng trưởng. Khi đó, sự chuyển dịch về lượng đã thực sự trở thành chuyển biến về chất, tạo nền tảng cho nền công nghiệp tự chủ hơn, hệ thống thương mại hiện đại hơn và sức cạnh tranh bền vững hơn của doanh nghiệp Việt Nam.

Từ nhà máy đến thị trường, doanh nghiệp đang cụ thể hóa mục tiêu tái cơ cấu ngành Công Thương bằng đổi mới sản xuất, chuyển đổi số và nâng sức cạnh tranh.

Hòa Bình