Sáng 20/1, tại Hà Nội, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (NAEC), Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) tổ chức Hội thảo quốc tế “Kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ: đổi mới, hành động, tác động và cơ hội đầu tư (RiceEco 4Is)”.
Rơm rạ không còn là phế thải
Theo các tổ chức quốc tế, mỗi năm thế giới tạo ra khoảng 500 - 600 triệu tấn rơm rạ. Riêng Tiểu vùng Mekong, trung tâm sản xuất lúa gạo hàng đầu toàn cầu, lượng sinh khối này chiếm tỷ trọng rất lớn. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, rơm rạ vẫn bị đốt bỏ hoặc xử lý kém hiệu quả, gây ô nhiễm không khí, suy thoái đất và phát thải khí nhà kính.
Hội thảo quốc tế “Kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ: đổi mới, hành động, tác động và cơ hội đầu tư (RiceEco 4Is)”. Ảnh: N.H
Trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, phát thải thấp, rơm rạ đang được nhìn nhận lại như một nguồn tài nguyên sinh khối chiến lược, có thể tạo giá trị kinh tế mới, đồng thời góp phần thực hiện các cam kết khí hậu.
Được tài trợ bởi Quỹ Hợp tác Mekong - Hàn Quốc (MKCF), dự án RiceEco (2023 - 2026) đã cung cấp những bằng chứng khoa học và thực tiễn cho thấy, nếu quản lý và tái sử dụng hiệu quả, rơm rạ có thể trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông nghiệp tuần hoàn.
Theo các nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long, áp dụng các biện pháp quản lý rơm rạ bền vững có thể giúp giảm tới 36% phát thải, tương đương hơn 2 triệu tấn CO₂e mỗi năm. Con số này đặc biệt có ý nghĩa khi Việt Nam đang triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tại Campuchia, các thí nghiệm thực địa cho thấy việc sử dụng rơm làm phân bón hữu cơ, compost giúp tăng năng suất lúa và rau màu, cải thiện đa dạng sinh học đất, tạo nền tảng cho sản xuất bền vững lâu dài.
PGS.TS Nguyễn Văn Hùng - chuyên gia cao cấp IRRI, Trưởng Dự án RiceEco cho biết, việc thu gom, tái sử dụng rơm rạ theo mô hình nông nghiệp tuần hoàn có thể giảm trên 30% phát thải khí nhà kính, đồng thời tạo giá trị gia tăng trên 20% cho chuỗi lúa - rơm.
Không chỉ dừng ở nghiên cứu, các mô hình thí điểm tại Việt Nam và Campuchia là minh chứng cho hiệu quả kinh tế, mở ra cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp.
Tại Việt Nam, Hợp tác xã Tiến Thuận là một điển hình. So với canh tác truyền thống, mô hình tích hợp chuỗi giá trị rơm rạ giúp tăng hơn 20% thu nhập, tương đương khoảng 640 USD/ha/năm. Trong đó, trồng nấm rơm mang lại thêm khoảng 260 USD/ha/năm, còn sản xuất phân hữu cơ từ rơm rạ bằng cơ giới hóa kết hợp chế phẩm sinh học giúp tăng thêm khoảng 380 USD/ha/năm.
Tại Campuchia, mô hình sản xuất compost cơ giới hóa đạt lợi nhuận trung bình 136 USD/tấn, với giá bán từ 285 - 300 USD/tấn (bán buôn) và 320 - 330 USD/tấn (bán lẻ). Hoạt động trồng nấm rơm mang lại khoảng 256 USD/ha/năm, chưa kể giá trị tăng thêm từ việc tận dụng toàn bộ rơm rạ sau thu hoạch để ủ compost.
Cần cú hích chính sách và đầu tư
Theo các chuyên gia, thách thức lớn nhất hiện nay là làm thế nào để chuyển các mô hình thí điểm sang sản xuất quy mô lớn. Để làm được điều đó, cần sớm công nhận rơm rạ là tài nguyên sinh khối với hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia; xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh, minh bạch; thiết kế các cơ chế tài chính, tín dụng và ưu đãi phù hợp để thu hút doanh nghiệp đầu tư.
Đáng chú ý, dự án RiceEco đã đóng góp trực tiếp vào ba văn bản kỹ thuật quốc gia về hệ thống lúa gạo tuần hoàn, phát thải thấp, phục vụ Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Dự án cũng được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng trong nước và khu vực, trong đó có Giải thưởng Đổi mới xuất sắc châu Á 2025.
Phát biểu tại hội thảo, TS. Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh, phát triển nông nghiệp chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh là định hướng chiến lược của Việt Nam đến năm 2030. Trong lộ trình đó, quản lý và khai thác hiệu quả rơm rạ theo hướng kinh tế tuần hoàn được xác định là giải pháp then chốt.
Theo ông Lê Quốc Thanh, mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 44 triệu tấn lúa, đồng nghĩa với lượng rơm rạ rất lớn. Nếu tiếp tục đốt bỏ, đây sẽ là gánh nặng môi trường; nhưng nếu được thu gom, tái sử dụng hợp lý, rơm rạ sẽ trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng, góp phần giảm phát thải, cải thiện đất canh tác và tăng thu nhập cho nông dân.
Ở góc độ khu vực, TS. Jongsoo Shin - Giám đốc khu vực châu Á của IRRI, cho rằng kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ mang lại “tác động kép”, vừa cải thiện chất lượng môi trường, vừa nâng cao sinh kế.
“Thay vì phải bỏ ra nhiều chi phí để khắc phục ô nhiễm, chúng ta đang từng bước biến rơm rạ, vốn được xem là chất thải, thành nguồn tài nguyên có giá trị, vừa bảo vệ môi trường, vừa cải thiện điều kiện sống. Đây chính là giá trị cốt lõi mà các dự án phát triển bền vững luôn hướng tới”, TS. Jongsoo Shin nói.
TS. Suriyan Vichitlekarn - Giám đốc Viện Mekong nhấn mạnh vai trò của hợp tác khu vực trong việc hình thành chuỗi giá trị xanh cho toàn Tiểu vùng Mekong. Từ những cánh đồng lúa, rơm rạ đang dần được “đánh thức” để trở thành nguồn lực mới cho nông nghiệp phát thải thấp, mở ra dư địa tăng trưởng và cơ hội đầu tư trong chuỗi giá trị nông nghiệp xanh của khu vực.
RiceEco đang từng bước đặt nền móng cho hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn nông nghiệp khu vực, gắn với Khung hợp tác GMS 2030 và Tầm nhìn ASEAN sau 2025.
Với vai trò là nền tảng chuyển đổi hệ thống khu vực, Viện Mekong (MI) đang thúc đẩy việc nâng cấp và điều chỉnh các mô hình thành công tại Việt Nam để triển khai tại Campuchia, Thái Lan, Lào và Myanmar, hình thành chuỗi giá trị xanh và hành lang đầu tư khu vực cho nông nghiệp phát thải thấp.