Đóng

Tăng liên kết FDI, tạo dư địa phát triển công nghiệp hỗ trợ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng trong công nghiệp chế biến, chế tạo, mở ra cơ hội cho công nghiệp hỗ trợ. Tăng liên kết và năng lực cung ứng giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Khoảng cách lớn giữa nhà cung ứng Việt và FDI

Làn sóng dịch chuyển sản xuất và chiến lược đa dạng hóa nguồn cung của các tập đoàn đa quốc gia đang mở ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, thu hút được các tập đoàn lớn không đồng nghĩa doanh nghiệp nội địa tự động trở thành đối tác cung ứng.

Thực tế, khoảng cách giữa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước và các tập đoàn đa quốc gia vẫn còn lớn. Theo số liệu thống kê, trong khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm khoảng 30%. Trong khi đó, khoảng 88% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có quy mô nhỏ và vừa, phần lớn còn hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận thông tin thị trường.

Tăng kết nối FDI và doanh nghiệp nội địa trong sản xuất công nghiệp.

Chia sẻ về nội dung này, bà Trương Thị Chí Bình, Tổng thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) nhận định: Doanh nghiệp Việt còn thiếu và yếu, khó tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI (đầu tư nước ngoài) vì các tập đoàn thường đã có mạng lưới nhà cung ứng ổn định. Doanh nghiệp trong nước muốn trở thành nhà cung ứng thay thế phải cạnh tranh về giá và chất lượng. Vì vậy, lợi thế nhân công hoặc khoảng cách địa lý chưa đủ để doanh nghiệp Việt giành được đơn hàng. Muốn tham gia trực tiếp, doanh nghiệp phải chứng minh năng lực sản xuất ổn định, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và hiệu quả kinh tế trong dài hạn.

Theo đánh giá của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), dù đạt được những kết quả tích cực, ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều hạn chế, nhất là về cơ chế, chính sách, năng lực sản xuất và khả năng tự chủ nguồn cung. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực công nghệ và quản trị còn hạn chế, thiếu các đầu mối hỗ trợ kỹ thuật chuyên sâu, khiến khả năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI chưa tương xứng với tiềm năng.

Chính sách thúc đẩy liên kết, phát triển nhà cung ứng nội địa

Để trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp không chỉ cần năng lực sản xuất linh kiện mà còn phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, độ ổn định, tiến độ giao hàng, truy xuất nguồn gốc và khả năng cải tiến liên tục. Với những linh kiện có hàm lượng công nghệ cao, quá trình đánh giá và lựa chọn nhà cung ứng còn đòi hỏi thời gian, nguồn lực và năng lực kỹ thuật đáng kể.

Quan trọng hơn, hiệu quả của các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ cần được đánh giá bằng những kết quả cụ thể, như số lượng doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng mới, tỷ lệ sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, giá trị đơn hàng được thực hiện và mức độ gia tăng năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Đây là cơ sở để xác định mức độ chuyển biến thực chất trong quan hệ giữa doanh nghiệp FDI và khu vực sản xuất trong nước.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Chu Việt Cường - Phòng Công nghiệp hỗ trợ, Cục Công nghiệp cũng nêu giải pháp, đối với doanh nghiệp FDI, việc thu hút đầu tư cần gắn chặt hơn với mục tiêu nâng cao liên kết nội địa, phát triển nhà cung ứng Việt Nam và chuyển giao công nghệ theo lộ trình phù hợp. Các tập đoàn lớn cũng cần được khuyến khích hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn cải tiến sản xuất và tạo cơ hội để SMEs từng bước đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Cách tiếp cận này giúp chuyển mối quan hệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa từ giao dịch mua bán đơn thuần sang hợp tác phát triển năng lực. Khi doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng ổn định yêu cầu về chất lượng, tiến độ và giá thành, khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng sẽ được cải thiện.

Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hoàng - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA) nhìn nhận, bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, cơ chế kết nối giữa tập đoàn FDI và nhà cung ứng trong nước cần được cải thiện. Doanh nghiệp nội địa cần tiếp cận sớm thông tin về nhu cầu linh kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy mô đơn hàng và lộ trình phát triển nhà cung ứng. Nếu chỉ tìm kiếm đối tác khi nhà máy đã vận hành ổn định, doanh nghiệp Việt sẽ khó có đủ thời gian chuẩn bị.

Về dài hạn, doanh nghiệp Việt cần hướng tới những vị trí có giá trị cao hơn, từ sản xuất linh kiện theo bản vẽ đến thiết kế, phát triển sản phẩm và làm chủ công nghệ. Khi có năng lực nghiên cứu, cải tiến và cung cấp giải pháp kỹ thuật, doanh nghiệp sẽ giảm phụ thuộc vào đơn hàng gia công, đồng thời có cơ hội tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển sản phẩm của khách hàng.

Bên cạnh đó, yêu cầu tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước đã được xác định trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết nhấn mạnh việc nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực FDI thông qua chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng nội địa. Đồng thời, văn bản đặt ra nhiệm vụ xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước, thiết lập cơ sở dữ liệu và nền tảng kết nối giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam.

Cùng với đó, Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ tiếp tục xác định sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 cũng chú trọng nâng cao năng lực công nghệ, quản trị chất lượng, đào tạo nhân lực và tăng cường kết nối doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp dẫn dắt.

Các chính sách này tạo cơ sở để thúc đẩy liên kết giữa hai khu vực, song hiệu quả thực tế phụ thuộc vào cách thức triển khai và khả năng chuyển hóa chủ trương thành những quan hệ hợp tác sản xuất cụ thể. Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ cần được thực hiện theo hướng khuyến khích hợp tác trên cơ sở lợi ích hài hòa giữa các bên, đồng thời bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế.

Trong đó, cần tạo động lực để doanh nghiệp FDI  chủ động phát triển mạng lưới nhà cung ứng tại Việt Nam, tăng cường chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và kết nối sản xuất. Song song với đó, chính sách hỗ trợ cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa, giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của các chuỗi cung ứng toàn cầu bằng chất lượng sản phẩm, năng suất và năng lực công nghệ.

Dòng vốn FDI tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với phát triển công nghiệp, tăng cường liên kết và nâng cao năng lực hấp thụ sẽ quyết định mức độ tận dụng cơ hội của doanh nghiệp Việt Nam. Khi các dự án đầu tư không chỉ tạo ra sản lượng và kim ngạch xuất khẩu mà còn thúc đẩy hình thành mạng lưới nhà cung ứng nội địa có năng lực, công nghiệp hỗ trợ sẽ có thêm dư địa phát triển, góp phần nâng cao giá trị gia tăng trong nước và vị thế của Việt Nam trong chuỗi công nghiệp toàn cầu.

Việt Duy