Đóng

Tạo động lực cho đô thị Buôn Ma Thuột từ công nghiệp và logistics

Gắn công nghiệp chế biến với logistics và cảng biển sẽ giúp Buôn Ma Thuột nâng cao giá trị nông sản, phát huy vai trò trung tâm vùng Tây Nguyên.

Về định hướng phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp và logistics tại khu vực đô thị Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, ông Nguyễn Văn Nhiệm – Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk đã trả lời phỏng vấn Báo Công Thương, phân tích những điểm nghẽn và giải pháp huy động nguồn lực, kết nối sản xuất với thị trường.

Ông Nguyễn Văn Nhiệm, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk

- Thưa ông, trong không gian phát triển mới của tỉnh Đắk Lắk, công nghiệp và logistics có vai trò như thế nào đối với mục tiêu đưa Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên?

Ông Nguyễn Văn Nhiệm: Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên trước đây đã mở rộng không gian phát triển, tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa vùng cao nguyên với khu vực duyên hải, hệ thống cảng biển và các hành lang kinh tế liên vùng. Đây là lợi thế quan trọng để Buôn Ma Thuột phát huy vai trò trung tâm công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ và logistics của Tây Nguyên.

Từ góc độ ngành Công Thương, chúng tôi cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy phát triển đô thị chủ yếu dựa vào mở rộng không gian xây dựng sang phát triển dựa trên năng lực sản xuất, chế biến, lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Trong đó, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và logistics là những động lực tạo việc làm, nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh.

Trong cấu trúc phát triển chung, Buôn Ma Thuột – Buôn Hồ được định hướng là đầu mối chế biến nông, lâm sản, thương mại, dịch vụ và tổ chức nguồn hàng phía Tây; Khu kinh tế Nam Phú Yên là không gian phát triển công nghiệp, cảng biển và logistics phía Đông.

Hai khu vực cần được kết nối thành chuỗi giá trị từ vùng nguyên liệu, chế biến, bảo quản, phân phối đến cảng biển và thị trường xuất khẩu. Đồng thời, hành lang này còn phục vụ vận chuyển nguyên liệu, máy móc, thiết bị từ cảng biển vào khu vực cao nguyên.

- Đâu là những điểm nghẽn đang hạn chế khả năng thu hút đầu tư và nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp tại khu vực Buôn Ma Thuột, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Nhiệm: Trước hết là quỹ đất công nghiệp có hạ tầng đồng bộ. Khu công nghiệp Hòa Phú và các cụm công nghiệp Tân An 1, Tân An 2 đã lấp đầy, trong khi doanh nghiệp tiếp tục có nhu cầu mở rộng sản xuất. Việc phát triển các khu, cụm công nghiệp mới còn phụ thuộc vào chuẩn bị quỹ đất, giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng và năng lực nhà đầu tư.

Một hạn chế khác là công nghiệp chế biến chưa khai thác hết tiềm năng vùng nguyên liệu. Khu vực có lợi thế về cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và nhiều nông sản khác, nhưng các chuỗi chế biến sâu, sản xuất bao bì, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ kỹ thuật chưa phát triển tương xứng.

Sơ đồ vị trí và mối liên hệ vùng trong Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050.

Đối với logistics, hoạt động hiện nay chủ yếu vẫn là vận chuyển hàng hóa đơn thuần, chưa hình thành trung tâm có đầy đủ chức năng kho vận, kho lạnh, tập kết và phân phối. Các dịch vụ bảo quản, phân loại, đóng gói, giao nhận còn hạn chế so với nhu cầu, nhất là đối với nông sản đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng và thời gian giao hàng.

Bên cạnh đó, kết nối giao thông liên vùng cần tiếp tục hoàn thiện. Khả năng hình thành chuỗi vận tải, kho vận và xuất khẩu kết nối khu vực cao nguyên với Bến cảng Bãi Gốc còn phụ thuộc vào tiến độ đầu tư giao thông, hạ tầng cảng và các dịch vụ liên quan.

Như vậy, yêu cầu đặt ra là tổ chức lại không gian sản xuất và lưu thông hàng hóa một cách đồng bộ, lấy giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả đầu tư.

- Để giải bài toán mặt bằng sản xuất, việc mở rộng và phát triển các khu, cụm công nghiệp sẽ được định hướng ra sao?

Ông Nguyễn Văn Nhiệm: Theo định hướng, Khu công nghiệp Hòa Phú được mở rộng thêm khoảng 150 ha. Việc bổ sung quỹ đất cần gắn với thu hút những dự án có công nghệ phù hợp, sử dụng đất hiệu quả, tạo giá trị gia tăng và có khả năng liên kết với doanh nghiệp trong tỉnh.

Đối với các cụm công nghiệp Hòa Xuân 1 và Hòa Xuân 2, mỗi cụm dự kiến có quy mô 75 ha, cần sớm rà soát điều kiện hình thành, nhu cầu mặt bằng, khả năng kết nối hạ tầng và phương án đầu tư. Quá trình triển khai phải lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, xác định rõ trách nhiệm về tiến độ, hạ tầng kỹ thuật và môi trường, tránh tình trạng có quy hoạch nhưng chậm đầu tư.

Cùng với phát triển không gian mới, cần nâng cao chất lượng quản lý, vận hành các khu, cụm công nghiệp hiện hữu; kiểm soát môi trường, khuyến khích đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, hướng tới công nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn.

Chúng tôi cũng cho rằng cần phối hợp phân vai ngành nghề giữa các khu, cụm công nghiệp khu vực Buôn Ma Thuột với các khu công nghiệp phía Đông. Ưu tiên là những dự án tạo liên kết thực chất giữa chế biến nông sản tại vùng nguyên liệu với công nghiệp hỗ trợ, chế tạo và dịch vụ xuất nhập khẩu ở khu vực ven biển.

- Đầu mối logistics tại khu vực Tân Lập – Tân An được kỳ vọng sẽ hỗ trợ doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu nông sản như thế nào?

Ông Nguyễn Văn Nhiệm: Theo định hướng quy hoạch, tại phường Tân Lập, Tân An phát triển Chợ đầu mối nông sản vùng Tây Nguyên gắn với khu dịch vụ hậu cần trung chuyển, kết hợp cảng cạn và khu công nghệ cao nông sản, quy mô khoảng 495 ha.

Đây là không gian có tiềm năng đảm nhận chức năng tập kết, phân loại, bảo quản, trung chuyển và phân phối hàng hóa, kết nối sản xuất của khu vực cao nguyên với hệ thống giao thông và thị trường tiêu thụ.

Để khai thác hiệu quả, cần phân kỳ đầu tư phù hợp với nhu cầu thị trường và khả năng huy động vốn. Trước mắt, cần nghiên cứu kỹ mô hình tổ chức, cơ cấu chức năng và các công trình ưu tiên, chú trọng kho hàng, kho lạnh, trung tâm phân phối, dịch vụ đóng gói, kiểm định chất lượng, truy xuất nguồn gốc và quản trị logistics số.

Đầu mối này cần liên kết với Khu công nghiệp Hòa Phú, các cụm công nghiệp Tân An, Hòa Xuân, Khu công nghiệp Phú Xuân và các vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến của Tây Nguyên. Về lâu dài, cần nghiên cứu kết nối với Khu kinh tế Nam Phú Yên và Bến cảng Bãi Gốc để hình thành chuỗi vận chuyển từ vùng nguyên liệu đến thị trường xuất khẩu.

Khi được đầu tư đồng bộ, hệ thống này sẽ góp phần giảm chi phí lưu thông, hỗ trợ bảo quản chất lượng nông sản và nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu giao hàng của doanh nghiệp.

- Những cơ chế, giải pháp nào cần được ưu tiên để các định hướng trên sớm trở thành động lực tăng trưởng thực tế, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Nhiệm: Trước hết, cần có cơ chế huy động, bố trí và lồng ghép nguồn lực đầu tư hạ tầng thiết yếu phục vụ công nghiệp, logistics, nhất là giao thông kết nối, điện, nước và xử lý nước thải tập trung. Với các công trình có vai trò liên vùng, cần sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương theo thẩm quyền.

Sơ đồ định hướng phát triển hệ thống cung cấp năng lượng và viễn thông thụ động trong Quy hoạch chung đô thị Buôn Ma Thuột đến năm 2050.

Đồng thời, địa phương cần tiếp tục nghiên cứu chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số; ưu tiên chế biến sâu cà phê, sầu riêng, hồ tiêu và các nông, lâm sản có lợi thế. Cùng với đó là xúc tiến đầu tư chuyên đề về logistics, thu hút doanh nghiệp có năng lực phát triển kho lạnh, trung tâm phân phối và dịch vụ quản trị chuỗi cung ứng.

Liên kết vùng phải được cụ thể hóa bằng danh mục dự án, kế hoạch thực hiện, nguồn lực và trách nhiệm của từng đơn vị. Trước mắt, cần tăng cường phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về vùng nguyên liệu, nhu cầu vận tải, quỹ đất công nghiệp và tiến độ các dự án hạ tầng.

Một yêu cầu xuyên suốt là cải cách thủ tục hành chính, phát huy cơ chế “luồng xanh” đối với dự án đủ điều kiện, xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết. Phát triển công nghiệp, logistics cũng phải gắn với đào tạo nhân lực, nhà ở cho người lao động và hạ tầng xã hội.

Sở Công Thương sẽ tiếp tục chủ động tham mưu giải pháp phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp, khuyến công, xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường; phối hợp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy đầu tư theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Theo Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk, Khu công nghiệp Hòa Phú đã thu hút 58 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng 6.697 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 5.000 lao động, tỷ lệ lấp đầy đạt 100%. Cụm công nghiệp Tân An 1 và Tân An 2 có quy mô lần lượt khoảng 48,5 ha và 56,3 ha, đều đạt tỷ lệ lấp đầy 100%. Thực tế này cho thấy nhu cầu bổ sung quỹ đất công nghiệp có hạ tầng đồng bộ để phục vụ mở rộng sản xuất và thu hút dự án mới.

Cao Nguyên