Giữ đà tăng trưởng cao, kinh tế Việt Nam vào nhóm dẫn đầu khu vực
Từ một nền kinh tế có quy mô GDP chỉ khoảng 8 tỷ USD vào năm 1986, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ sau gần bốn thập kỷ Đổi mới. Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao qua nhiều giai đoạn, từ 4,4%/năm giai đoạn 1986–1990 lên 8,2%/năm giai đoạn 1991–1995 và tiếp tục giữ nhịp tích cực trong các thập niên sau.
Việt Nam là đại diện Đông Nam Á duy nhất nằm trong nhóm 10 nền kinh tế mới nổi có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Ảnh minh họa
Đến năm 2025, quy mô GDP ước đạt khoảng 514 tỷ USD, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 32 thế giới và thứ 4 trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, chính thức bước vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao. Các cân đối vĩ mô được duy trì ổn định, tổng kim ngạch thương mại vượt 930 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế thương mại lớn nhất toàn cầu. Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò, đóng góp hơn 50% GDP, tạo khoảng 90% việc làm.
Theo Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Việt Nam là đại diện Đông Nam Á duy nhất nằm trong top 10 nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, với mức dự báo đạt 6,4% giai đoạn 2024–2029. IMF nhận định Việt Nam sẽ bước vào chu kỳ tăng trưởng mạnh, thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi năng động nhất, qua đó mở ra dư địa lớn để thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Hoạt động thương mại tiếp tục là điểm sáng trong những tháng đầu năm 2026. Tính đến giữa tháng 4, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 297 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt 144,6 tỷ USD, tăng 20,3%, với nhiều nhóm hàng chủ lực tăng mạnh như điện tử, máy móc, thiết bị.
Khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu và hơn 72% kim ngạch nhập khẩu. Điều này phản ánh sức hút của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng đồng thời cũng đặt ra vấn đề về tính tự chủ của nền kinh tế.
Cần “gỡ nút thắt” chất lượng
Dù đạt nhiều thành tựu, các chuyên gia cho rằng chất lượng tăng trưởng của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Chia sẻ tại Hội thảo Khoa học Quốc gia “Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026”, PGS. TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng, không thể phủ nhận những cải thiện trong thời gian qua, song nếu đối chiếu với các tiêu chí khoa học và yêu cầu phát triển bền vững, chất lượng tăng trưởng vẫn chưa đạt như kỳ vọng.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Về nguyên tắc, nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải dịch chuyển nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó khu vực công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ đạo.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy giai đoạn 2020–2025, tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP chỉ tăng khoảng 1 điểm phần trăm, mức tăng thấp so với yêu cầu. Trong khi đó, đối với các nền kinh tế công nghiệp hóa, tỷ trọng dịch vụ thường cần đạt trên 60% GDP. Ở chiều ngược lại, khu vực nông nghiệp giảm từ khoảng 14,7% xuống còn 11,6%, nhưng mức chuyển dịch này chưa đủ tạo ra thay đổi đáng kể trong cơ cấu tổng thể.
Bên cạnh chuyển dịch giữa các ngành, sự thay đổi trong nội tại từng khu vực kinh tế cũng chưa đạt kỳ vọng. Theo PGS. TS Bùi Quang Tuấn, quá trình tái cơ cấu trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ theo hướng nâng cao giá trị gia tăng còn chậm. Nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc lớn vào xuất khẩu và khu vực FDI, với mô hình gia công, lắp ráp là chủ yếu. Trong khi đó, mục tiêu phát triển đòi hỏi phải tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị như nghiên cứu, thiết kế và thương mại hóa sản phẩm.
Tỷ lệ nội địa hóa, khả năng làm chủ công nghệ và hàm lượng giá trị gia tăng trong nước vẫn còn hạn chế. Điều này phản ánh cơ cấu nội ngành chưa có sự chuyển biến rõ nét theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Một điểm nghẽn đáng chú ý khác là đầu tư cho khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp. Dù tăng trưởng tín dụng ở mức cao, dòng vốn chủ yếu vẫn chảy vào bất động sản và các lĩnh vực ngắn hạn, thay vì các ngành tạo nền tảng dài hạn như công nghệ hay chuyển đổi số.
Trước đây, tỷ lệ chi cho khoa học – công nghệ chỉ khoảng 0,5% GDP và thậm chí có thời điểm không giải ngân hết. Mục tiêu nâng lên khoảng 2% GDP đến nay vẫn chưa đạt, trong khi mức bình quân toàn cầu khoảng 2,2% GDP. Khoảng cách này cho thấy nền tảng cho tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo còn yếu.
Theo PGS.TS Bùi Quang Tuấn, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng tăng trưởng chưa phát huy vai trò. Thậm chí, trong năm gần đây, TFP ghi nhận mức tăng trưởng âm, phản ánh thực trạng nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào tăng trưởng theo chiều rộng.
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững cũng đang đặt ra nhiều thách thức. Thực tế, tăng trưởng kinh tế vẫn đi kèm với gia tăng phát thải. Cường độ phát thải trên một đơn vị GDP của Việt Nam hiện cao hơn khoảng 45% so với mức trung bình khu vực, trong khi tốc độ gia tăng phát thải lên tới khoảng 60% mỗi năm, đây là những con số mang tính cảnh báo.
Trong khi đó, nguồn lực cho tăng trưởng xanh còn hạn chế. Tín dụng xanh mới chiếm khoảng 4,2% tổng dư nợ, còn tỷ lệ lao động trong các lĩnh vực xanh chỉ khoảng 3,6%. Quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững vẫn diễn ra chậm.
Để cải thiện chất lượng tăng trưởng, PGS. TS Bùi Quang Tuấn cho rằng, cần một cách tiếp cận toàn diện, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực nội tại, tăng đầu tư cho khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời gắn tăng trưởng với chuyển đổi số và tăng trưởng xanh. Đây được xem là con đường then chốt giúp Việt Nam không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà còn nâng tầm chất lượng, cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
Tăng trưởng kinh tế có cải thiện nhưng chưa bền vững, khi chuyển dịch cơ cấu chậm, đầu tư cho công nghệ hạn chế và năng suất chưa trở thành động lực chính.