Đóng

Tiết kiệm năng lượng để doanh nghiệp Việt lớn lên - Bài 2: Sau những con số, bắt đầu từ đâu?

Từ nhà máy sợi, thức ăn chăn nuôi, tới nhà máy thực phẩm ở phía Nam…, những doanh nghiệp kéo được suất tiêu hao đi xuống đều bắt đầu bằng những việc cụ thể: chỉnh giờ chạy máy lạnh, bịt rò rỉ khí nén, lắp biến tần, tận dụng nhiệt thải. Trong khi đó, dòng vốn xanh của ngân hàng đã lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng nhưng vẫn chưa chảy nhiều vào dự án tiết kiệm năng lượng trong nhà máy.

“Bắt mạch” dòng điện

Một nhà máy chỉ có đồng hồ đầu nguồn có thể biết mỗi tháng tiêu thụ bao nhiêu điện. Nhưng để biết phân xưởng nào tiêu thụ nhiều, thiết bị nào đang chạy không tải, hệ thống nào vận hành vượt nhu cầu hay một điểm rò rỉ đang âm thầm kéo thêm điện năng, doanh nghiệp cần những số đo chi tiết hơn.

Kiểm tra định kỳ hệ thống tủ điện là một trong những giải pháp giúp doanh nghiệp giảm tổn thất và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

Đó cũng là điểm bắt đầu của nhiều câu chuyện tiết kiệm năng lượng tại các nhà máy được ghi nhận trong những năm gần đây.

Thành lập năm 2000, Sợi Thế Kỷ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh sợi tổng hợp, với các sản phẩm chủ yếu như sợi polyester DTY, FDY. Trong hoạt động sản xuất, doanh nghiệp xác định quản lý và kiểm soát định mức tiêu hao là nền tảng để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Thay vì bắt đầu bằng một dự án đầu tư lớn, doanh nghiệp từng bước theo dõi, đo lường mức tiêu thụ năng lượng, xác định những khu vực còn dư địa tiết kiệm rồi mới lựa chọn giải pháp. Từ rò rỉ khí nén, động cơ, cánh quạt đến hệ thống bơm, mỗi vị trí được xem như một điểm có thể cải thiện nếu được rà soát đúng cách. Cách làm này đem lại những kết quả có thể đo đếm. Riêng năm 2024, các giải pháp giúp Sợi Thế Kỷ tiết kiệm khoảng 1,677 triệu kWh; lũy kế đến hết năm 2025 đạt hơn 4,43 triệu kWh.

Câu chuyện tương tự được nhận thấy tại Bosch Việt Nam. Từ năm 2018, doanh nghiệp từng bước đầu tư hệ thống quản trị năng lượng với gần 400 điểm đo, kết nối các hệ thống giám sát và quản lý điện năng (PMS), hệ thống giám sát và điều khiển từ xa (SCADA) để theo dõi liên tục tình trạng vận hành. Dữ liệu không chỉ cho biết lượng điện tiêu thụ mà còn phản ánh chất lượng điện, biểu đồ phụ tải, hiệu suất thiết bị và cảnh báo những dấu hiệu bất thường.

Khi có dữ liệu, việc tiết kiệm năng lượng không còn dừng ở câu hỏi “tháng này dùng bao nhiêu điện?”, mà chuyển sang những câu hỏi cụ thể hơn: khu vực nào đang tiêu thụ bất thường, thiết bị nào cần điều chỉnh, giải pháp nào thực sự tạo ra hiệu quả và hiệu quả ấy duy trì được bao lâu? Đây chính là khác biệt quan trọng giữa việc giảm một khoản chi phí và quản trị năng lượng.

Tại Công ty TNHH CPV Food, việc áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001:2018, thành lập Ban Năng lượng và thực hiện kiểm toán năng lượng từ cuối năm 2022 cũng giúp doanh nghiệp nhận diện các cơ hội tiết kiệm cụ thể, tương đương khoảng 1.252,37 MWh điện và 61.608 lít dầu FO mỗi năm. Những con số này cho thấy một điều: muốn tiết kiệm, trước hết phải biết mình đang lãng phí ở đâu. Khi đã biết, không phải lúc nào câu trả lời cũng là mua thêm máy móc, không tăng chi phí đầu tư.

Giải pháp cụ thể từ các nhà máy

Đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đồng Nai, xu hướng tiết kiệm điện đã chuyển từ vận động tuyên truyền sang chỉ tiêu quản trị cụ thể trong doanh nghiệp. Tiết kiệm năng lượng được xác định là giải pháp trực tiếp để giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tiết kiệm năng lượng được xác định là giải pháp trực tiếp để giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tại Công ty Cổ phần Dịch vụ Sonadezi (thành phố Đồng Nai), công tác tiết kiệm điện được triển khai đồng bộ. 100% hệ thống chiếu sáng dùng đèn LED, khu vực bên ngoài sử dụng đèn năng lượng mặt trời. Ông Trần Thanh Ngoan, Phó Trưởng ban Quản lý Dự án, Công ty Cổ phần Dịch vụ Sonadezi cho biết, ngay từ khâu đầu tư, xây dựng hệ thống sản xuất, công ty đã tính toán, lựa chọn các động cơ có hiệu suất cao cho các dây chuyền sản xuất, đồng thời kết hợp với hệ thống điều khiển tự động. Việc này giúp tối ưu quá trình vận hành, hạn chế những rủi ro do yếu tố con người và góp phần tiết kiệm điện ngay từ đầu.

Từ những giải pháp trên, công ty không những đạt hiệu quả về mặt kinh tế, giảm hóa đơn tiền điện hàng tháng mà còn chú trọng hướng đến hiệu quả xã hội là giảm phát thải khí nhà kính, hướng đến trung hòa carbon và mục tiêu Net Zero vào năm 2050 theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước. Trong thời gian tới, công ty tiếp tục nghiên cứu đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhà để phục vụ sản xuất.

Tương tự, Công ty TNHH Cargill Việt Nam cũng đặt mục tiêu tiết giảm từ 5 - 10% điện năng tiêu thụ trên mỗi tấn sản phẩm. Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp đã thay thế toàn bộ đèn cao áp, lắp đặt biến tần cho các động cơ công suất lớn, tận dụng ánh sáng tự nhiên, đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời phục vụ sản xuất. Dự kiến đến cuối năm 2026, tổng sản lượng điện mặt trời của Cargill tại Việt Nam đạt khoảng 13.600 MWh mỗi năm, giảm hơn 12.000 tấn CO2. Việc này tương đương trồng thêm khoảng 560.000 cây xanh mỗi năm.

Tại Nhà máy Cargill Biên Hòa (thành phố Đồng Nai), tiết kiệm điện không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn là một trong những giải pháp quan trọng để doanh nghiệp hướng tới sản xuất xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đặc biệt, doanh nghiệp định hướng tiếp tục đầu tư, mở rộng nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có điện mặt trời. Việc tận dụng diện tích mái nhà, nhà kho, nhà xưởng để phát điện không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào nguồn điện lưới, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp xanh, đồng thời đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng trong nước và quốc tế về phát triển bền vững và giảm phát thải carbon.

Khai thác dữ liệu để tư vấn hiệu quả cho từng doanh nghiệp

Theo Công ty Điện lực Đồng Nai, khối doanh nghiệp luôn là nhóm khách hàng chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản lượng điện thương phẩm trên địa bàn. Vào mùa nắng nóng, mức tiêu thụ điện của nhóm khách hàng này thường tăng khoảng 5 - 15% do các hệ thống làm mát, thông gió, máy nén khí phải hoạt động với công suất lớn hơn khi nhiệt độ môi trường tăng. Cùng với đó, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất trong năm cũng làm gia tăng nhu cầu phụ tải.

Doanh nghiệp chủ động sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và điều chỉnh thời gian vận hành các thiết bị, dây chuyền sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm áp lực lên lưới điện.

Vấn đề đặt ra, nếu nhiều doanh nghiệp cùng vận hành các thiết bị công suất lớn vào giờ cao điểm, công suất phụ tải cực đại sẽ tăng nhanh, tạo áp lực không nhỏ đối với công tác vận hành hệ thống điện. Vì vậy, việc doanh nghiệp chủ động sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và điều chỉnh thời gian vận hành các thiết bị, dây chuyền sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm áp lực lên lưới điện.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Duy Hiển, Trưởng phòng Kinh doanh Công ty Điện lực Đồng Nai cho biết, để hỗ trợ các doanh nghiệp, đơn vị đã triển khai nhiều giải pháp đồng hành, trong đó chú trọng tư vấn trực tiếp, vận động khách hàng thực hiện các giải pháp tiết kiệm điện và ký cam kết tiết kiệm điện theo Chỉ thị số 10/CT-TTg.

Cùng với đó, ngành điện tăng cường khai thác dữ liệu từ hệ thống đo xa để theo dõi, phân tích tình hình sử dụng điện, từ đó tư vấn cho từng doanh nghiệp phương án giảm công suất cực đại trong các khung giờ cao điểm. Đây được xem là giải pháp thiết thực, giúp doanh nghiệp nhận diện những thời điểm, khu vực có mức tiêu thụ điện cao để chủ động điều chỉnh.

Một bảng quảng cáo công suất lớn tại góc đường Trung Trực - Lê Lợi - Nam Kỳ Khởi Nghĩa (phường Sài Gòn) tắt điện, không chạy quảng cáo sau 22 giờ.

Trả lời phóng viên Báo Công Thương, ông Vũ Quang Đạo - Giám đốc Công ty Cổ phần Quảng cáo Hoa Sen cho biết, hưởng ứng chủ trương tiết kiệm điện của Chính phủ và TP. Hồ Chí Minh, doanh nghiệp đã triển khai nhiều giải pháp nhằm giảm tiêu thụ điện năng tại hệ thống quảng cáo ngoài trời. Là đơn vị phụ trách nhiều bảng quảng cáo công suất lớn tại khu vực trung tâm, công ty đã chấp hành chủ trương tắt toàn bộ màn hình LED, bảng quảng cáo lớn theo khung giờ quy định từ sau 22 giờ. Đồng thời, doanh nghiệp rà soát toàn bộ thiết bị, điều chỉnh độ sáng hợp lý và tối ưu thời gian vận hành nhằm giảm tiêu hao điện năng.

Chúng tôi đã cài đặt lại hệ thống vận hành các bảng quảng cáo. Việc tắt bớt điện giúp tiết kiệm từ 30% đến 50% công suất. Là đơn vị vừa phục vụ quảng cáo thương mại, vừa đảm nhận nhiệm vụ tuyên truyền chính trị, chúng tôi cũng vận động khách hàng đồng thuận, ủng hộ chủ trương chung”, ông Vũ Quang Đạo chia sẻ.

Theo lãnh đạo doanh nghiệp, hiện đơn vị đang khai thác 6 bảng quảng cáo lớn. Việc cắt giảm chiếu sáng khoảng 8 tiếng mỗi ngày giúp tiết kiệm khoảng 21.600 kWh mỗi tháng. Trước đây, mỗi bảng quảng cáo tiêu tốn khoảng 32 - 34 triệu đồng tiền điện mỗi tháng, nay chi phí giảm đáng kể, có bảng giảm gần một nửa.

Bài toán vay vốn còn điểm nghẽn

Nếu câu chuyện chỉ dừng ở tiết kiệm chi phí, doanh nghiệp có thể tự quyết định làm từ những khoản đầu tư nhỏ. Nhưng đối với những dự án có vốn đầu tư lớn, một câu hỏi khác xuất hiện: nguồn vốn ở đâu để thực hiện? Đây là lúc tiết kiệm năng lượng gặp câu chuyện tín dụng xanh.

Nhiều doanh nghiệp đầu tư điện mặt trời, tiết kiệm điện, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo số liệu được nêu tại tọa đàm do Ngân hàng Nhà nước phối hợp với GIZ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức tháng 6/2026, đến thời điểm đó có 82 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, với tổng dư nợ 828.000 tỷ đồng. Giai đoạn 2017-2025, dư nợ xanh tăng bình quân trên 20% mỗi năm.

Quy mô dòng vốn đã rất lớn. Tuy nhiên, việc đưa vốn vào những dự án tiết kiệm năng lượng trong nhà máy vẫn gặp những rào cản riêng. Theo một ngân hàng, ba điểm nghẽn là: đặc thù dòng tiền của dự án, suất đầu tư lớn và thời gian hoàn vốn dài, trong khi hồ sơ kỹ thuật và tài sản bảo đảm của doanh nghiệp còn hạn chế.

Vấn đề nằm ở chỗ một dự án tiết kiệm năng lượng thường không tạo ra một dòng doanh thu mới để ngân hàng dễ dàng nhìn thấy. Hiệu quả kinh tế của dự án nằm ở khoản chi phí năng lượng sẽ được cắt giảm trong tương lai. Vì vậy, ngân hàng phải trả lời một câu hỏi khó hơn: khoản tiền điện doanh nghiệp nói sẽ tiết kiệm được có thực sự hình thành dòng tiền đủ để trả khoản vay hay không?

Nếu thời gian hoàn vốn kéo dài 5 - 10 năm, thậm chí có dự án tới 20 năm, việc thẩm định càng trở nên phức tạp. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có báo cáo kiểm toán năng lượng, chưa có hệ thống đo lường và kiểm chứng kết quả, tài sản bảo đảm hạn chế. Một số thiết bị, hạng mục tiết kiệm năng lượng cũng không dễ định giá theo cách thế chấp truyền thống.

Như vậy, khoảng cách giữa doanh nghiệp và ngân hàng không chỉ nằm ở việc bên này có nhu cầu còn bên kia không có vốn. Nó nằm ở khả năng biến một ý tưởng tiết kiệm năng lượng thành một dự án có thể đo lường, tính toán hiệu quả và thẩm định dòng tiền.

Công ty Polytex đưa suất tiêu hao năng lượng bình quân từ 0,199 TOE/tấn sản phẩm năm 2020 xuống 0,167 TOE/tấn năm 2024. PVFCCo ghi nhận cường độ sử dụng năng lượng giảm từ 8,65 GJ/tấn năm 2023 xuống 7,68 GJ/tấn năm 2025. CPV Food đến tháng 11/2025 đưa suất tiêu hao xuống 0,111 TOE/tấn, cải thiện 27,9% so với năm gốc 2021. Sợi Thế Kỷ có hơn 4,43 triệu kWh điện được tiết kiệm lũy kế đến hết năm 2025.

Đó là những con số khác nhau, ở những ngành sản xuất khác nhau. Phía sau những con số ấy có một điểm chung đáng chú ý: phần lớn hành trình tiết kiệm bắt đầu từ việc biết mình đang tiêu tốn ở đâu, sau đó làm những việc có hiệu quả rõ nhất trước.

Khi dữ liệu đủ tốt, doanh nghiệp không chỉ biết cách tiết kiệm năng lượng mà còn có thêm một thứ quan trọng khác: một hồ sơ đủ sức thuyết phục ngân hàng. Bởi với một dự án tiết kiệm năng lượng, điều ngân hàng cần nhìn thấy cuối cùng không chỉ là bao nhiêu kWh điện được cắt giảm, mà là khoản tiết kiệm ấy có thể chuyển thành hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ như thế nào.

Vốn xanh không chỉ là câu chuyện ngân hàng có bao nhiêu tiền để cho vay mà là doanh nghiệp có chuẩn bị được một dự án đủ rõ để dòng tiền ấy có thể đi vào nhà máy hay chưa. Đưa những con số tiết kiệm năng lượng về cùng một cách đo lường, biến hiệu quả vận hành thành dòng tiền có thể thẩm định và đưa nguồn vốn xanh đến đúng những nơi có khả năng tạo ra hiệu quả thực tế sẽ góp phần thúc đẩy nhanh và hiệu quả hơn chủ trương tiết kiệm năng lượng.

Mời độc giả đón đọc Bài 3: Để cam kết không nằm trên giấy

Thanh Minh – Quang Anh – Thanh Hậu – Trâm Anh