“Đòn bẩy kép” cho tiết kiệm năng lượng
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tại Việt Nam gia tăng cùng áp lực giảm phát thải ngày càng lớn, sử dụng tiết kiệm năng lượng và hiệu quả không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Đây được coi là yếu tố then chốt để bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và hướng tới phát triển xanh.
Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn năng lượng trong sản xuất công nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Ảnh: Thùy Trang
Thực tế cho thấy, việc tối ưu hóa năng lượng không chỉ là câu chuyện vĩ mô ở tầm chính sách mà còn được cụ thể hóa bằng các giải pháp công nghệ tại doanh nghiệp. Là đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xử lý rác thải và đốt rác phát điện, Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam đang triển khai nhiều mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ nhằm tối ưu hóa sử dụng năng lượng.
TS. Nguyễn Đình Trọng, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn T-Tech Việt Nam cho hay, với T-Tech, tiết kiệm năng lượng không đơn thuần là giảm chi phí mà cốt lõi của công nghệ xử lý chất thải.
Doanh nghiệp đang tập trung vào các giải pháp trọng tâm như công nghệ lò đốt rác phát điện, trong đó nhiệt lượng từ quá trình đốt được thu hồi triệt để từ quá trình đốt rác để sản xuất hơi bão hòa chạy turbine phát điện. Hệ thống được thiết kế để tự duy trì nhiệt lượng, giảm thiểu tối đa việc sử dụng nhiên liệu phụ trợ (dầu/gas) sau khi khởi động.
Cùng đó, T-Tech ứng dụng hệ thống tự động hóa để kiểm soát nồng độ oxy và lưu lượng gió trong buồng đốt. Việc này giúp quá trình cháy diễn ra hoàn hảo nhất, vừa đảm bảo xử lý triệt để khí thải, vừa tối ưu hóa hiệu suất nhiệt, qua đó giảm lãng phí năng lượng.
Ngoài các dự án đốt rác phát điện, trong giai đoạn 2026-2030, T-Tech đẩy mạnh các dòng lò đốt quy mô vừa và nhỏ cho các địa phương. Đặc biệt là các khu vực đặc thù (như biển đảo và miền núi), nơi chi phí vận chuyển rác về khu liên hợp tập trung là cực kỳ đắt đỏ. Đây được xem là hình thức “tiết kiệm năng lượng gián tiếp” cực kỳ hiệu quả cho xã hội.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Trọng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam. Ảnh: Hải Sơn
“Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn, các dự án đốt rác phát điện đóng vai trò như một “mắt xích hoàn thiện” chu trình tài nguyên. Thay vì chôn lấp gây lãng phí quỹ đất và ô nhiễm nguồn nước, công nghệ đốt rác phát điện chuyển hóa chất thải thành điện năng và vật liệu xây dựng (tro xỉ sau đốt). Việc xử lý rác bằng công nghệ đốt hiện đại giúp ngăn chặn sự hình thành khí methane (CH4) từ các bãi chôn lấp, loại khí có tác hại gây hiệu ứng nhà kính cao gấp nhiều lần so với CO2. Mỗi MW điện sạch từ rác thải góp phần giảm bớt áp lực lên hệ thống điện lưới quốc gia và giảm sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch”, TS. Nguyễn Đình Trọng phân tích.
Theo TS. Nguyễn Đình Trọng, khi một doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng thành công, nó sẽ tạo “hiệu ứng domino”, khuyến khích các đơn vị khác cùng thay đổi để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tiết kiệm năng lượng thực chất là nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí đầu vào trên mỗi đơn vị sản phẩm. Việc tối ưu hóa giúp công ty duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ trong ngành môi trường.
“Ở bình diện quốc gia, khi toàn xã hội cùng chung tay, chúng ta sẽ giảm được hệ số đàn hồi điện/GDP vốn đang ở mức cao, từ đó tạo dư địa cho các ngành công nghiệp mũi nhọn bứt phá, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững trong tương lai”, TS. Nguyễn Đình Trọng nhấn mạnh.
Tháo nút thắt thể chế, hướng đến tăng trưởng hai con số
Dưới góc độ chuyên gia, PGS.TS Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam cho rằng, tiết kiệm năng lượng từ lâu đã được xác định là vấn đề mang tính chiến lược. Tại Việt Nam, nội dung này đã được thể chế hóa thông qua Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, thể hiện tầm nhìn dài hạn trong đảm bảo an ninh năng lượng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, áp lực về năng lượng ngày càng rõ rệt. Những biến động của tình hình thế giới, đặc biệt tại các khu vực cung cấp dầu mỏ lớn, càng làm nổi bật vai trò sống còn của năng lượng đối với nền kinh tế.
Đặc biệt, sau cam kết Net Zero (phát thải ròng bằng 0) vào năm 2050, Việt Nam đứng trước yêu cầu kép vừa đảm bảo đủ năng lượng cho phát triển, vừa giảm thiểu tác động môi trường. Điều này khiến bài toán tiết kiệm năng lượng càng trở nên quan trọng.
Một thực tế đáng chú ý là khu vực công nghiệp hiện tiêu thụ phần lớn năng lượng của nền kinh tế. Quá trình công nghiệp hóa càng mạnh mẽ, thì mức tiêu thụ năng lượng càng tăng. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng năng lượng trong nhiều ngành vẫn còn thấp do công nghệ lạc hậu, thiết bị tiêu tốn năng lượng lớn.
“Đây chính là “nút thắt” cần tháo gỡ. Muốn tiết kiệm năng lượng thực chất, trước hết phải bắt đầu từ chuyển đổi công nghệ. Việc loại bỏ dây chuyền cũ, thay thế bằng công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường là giải pháp cốt lõi. Đồng thời, cần kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu thiết bị lạc hậu, tránh biến Việt Nam thành nơi tiêu thụ công nghệ cũ”, PGS. TS Trương Mạnh Tiến nêu quan điểm.
PGS.TS Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam. Ảnh: Hải Sơn
Theo PGS.TS Trương Mạnh Tiến, bên cạnh công nghiệp, giao thông cũng là lĩnh vực tiêu thụ năng lượng lớn. Trong đó, tình trạng ùn tắc tại các đô thị không chỉ gây lãng phí thời gian mà còn làm gia tăng phát thải. Việc chuyển đổi sang phương tiện điện là xu hướng tất yếu, song cần có lộ trình hợp lý.
“Nếu chỉ tăng nhanh số lượng xe điện mà không giảm phương tiện chạy xăng, dầu, thì ùn tắc có thể trầm trọng hơn. Do đó, cần chiến lược chuyển đổi có kiểm soát như loại bỏ dần phương tiện cũ, phát triển hạ tầng phù hợp và tăng cường giao thông công cộng, đặc biệt là các loại hình linh hoạt, phù hợp điều kiện đô thị. Ví dụ, có thể thay thế xe buýt công cộng tại các thành phố lớn với xe 50 chỗ, xuống xe từ 30 chỗ ngồi trở xuống để hạn chế ùn tắc giao thông và giảm phát thải trong đô thị”, PGS. TS Trương Mạnh Tiến nêu quan điểm.
PGS. TS Trương Mạnh Tiến cũng cho rằng, để thực hành tiết kiệm năng lượng đạt hiệu quả cao, việc rà soát, sửa đổi các quy định theo hướng đồng bộ, phù hợp với xu thế quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Nhất là việc cần sớm điều chỉnh quy hoạch năng lượng trong bối cảnh Việt Nam vừa thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp vừa qua.
Việc điều chỉnh, bổ sung các chính sách về năng lượng cần được thực hiện theo hướng tổng thể từ Trung ương đến địa phương để đảm bảo phù hợp với thực tiễn. Các chính sách này cần nghiên cứu theo hướng vừa kết hợp giữa tính bắt buộc, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo, sản xuất xanh...
Một yếu tố mang tính quyết định trong chính sách tiết kiện năng lượng là sự tham gia của toàn xã hội. Nếu chỉ dựa vào chính sách mà thiếu sự đồng hành của người dân và doanh nghiệp, hiệu quả sẽ không như kỳ vọng.
Ở cấp độ hộ gia đình, việc sử dụng điện, nước và thiết bị tiết kiệm năng lượng tuy nhỏ nhưng khi cộng lại sẽ tạo ra giá trị lớn. Đây là nền tảng để hình thành thói quen sử dụng tiết kiệm và hiệu quả bền vững.
Đối với doanh nghiệp, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng ngày càng có vai trò quan trọng. Đây là khu vực tạo ra phần lớn giá trị kinh tế, nhưng doanh nghiệp cũng là nơi tiêu thụ năng lượng và phát thải nhiều nhất. Khi chủ động đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, doanh nghiệp không chỉ giảm chi phí mà còn nâng cao giá trị kinh tế và thương hiệu.
“Tiết kiệm năng lượng không chỉ là giải pháp mang tính kỹ thuật, mà là chiến lược cần có tính toán dài hạn. Đây là con đường tất yếu để Việt Nam vừa đạt mục tiêu tăng trưởng cao, vừa bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua chính sách, doanh nghiệp là lực lượng tiên phong đổi mới công nghệ, còn người dân là nền tảng tạo nên sự lan tỏa.
Khi ba “trụ cột” này cùng vận hành đồng bộ, tiết kiệm năng lượng không chỉ giúp nền kinh tế vượt qua thách thức, mà còn mở ra dư địa tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong tương lai”, PGS.TS Trương Mạnh Tiến nhận định.
Theo Nghị quyết 70 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045 của Bộ Chính trị, Việt Nam đặt mục tiêu đến 2030 tiết kiệm năng lượng đạt 8-10%, giảm thải khí nhà kính 15-35% so với kịch bản phát triển thông thường. Việc tiết kiệm năng lượng giúp giảm áp lực lên lưới điện quốc gia, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đóng góp vào mục tiêu giảm thải của Việt Nam, hướng tới cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.