Tổ chức lại không gian phát triển
Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng, hàng nghìn đảo cùng vị trí nằm trên những tuyến hàng hải quan trọng. Tuy nhiên, điều cần trả lời trong giai đoạn phát triển mới không còn nằm ở câu hỏi Việt Nam có tiềm năng biển lớn đến đâu, mà làm thế nào chuyển tiềm năng ấy thành năng lực sản xuất, sức cạnh tranh và những động lực tăng trưởng đủ mạnh cho nền kinh tế.
Nghị quyết số 20-NQ/TW (Nghị quyết 20) ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra một mục tiêu rất cụ thể đến năm 2030: “Hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh. Hình thành 3 khu kinh tế đặc biệt”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ảnh: TTXVN
Đây không đơn thuần là việc bổ sung thêm một chỉ tiêu phát triển. Đằng sau chỉ tiêu trên là yêu cầu tổ chức lại không gian kinh tế biển theo hướng tập trung nguồn lực vào những khu vực có khả năng tạo cực tăng trưởng, hình thành chuỗi giá trị đủ lớn, kết nối thị trường trong nước với khu vực và thế giới.
Vấn đề vì thế không phải có thêm bao nhiêu cảng biển, khu kinh tế hay đô thị ven biển. Điểm mấu chốt nằm ở khả năng liên kết những cấu phần ấy thành một chỉnh thể kinh tế có sức sống và khả năng tự tạo giá trị.
Một điểm quan trọng trong Nghị quyết 20 nằm ở cách nhìn về biển. Nghị quyết yêu cầu “chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia”; đồng thời xác định nhiệm vụ “hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền - biển - hải đảo và các không gian phát triển mới”.
Trung tâm kinh tế biển phải tạo được quan hệ kinh tế giữa các cấu phần, chứ không phải tập hợp nhiều dự án trên cùng một địa bàn.
Tinh thần này cũng đúng theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: “Phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng Quốc gia biển mạnh. Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến”.
Kinh tế biển được đặt trong tổng thể của quốc gia biển mạnh. Phát triển kinh tế phải đi cùng quản trị, công nghệ, môi trường, đời sống cư dân và bảo vệ chủ quyền. Cách tiếp cận ấy đặt ra yêu cầu cao hơn đối với những trung tâm kinh tế biển trong tương lai. Các trung tâm này phải thực sự là nơi hội tụ và tổ chức các nguồn lực phát triển, chứ không phải một “nhãn” mới gắn cho những khu vực vốn đã có cảng biển, khu công nghiệp và đô thị.
Nghị quyết 20 cũng xác định mục tiêu đến năm 2030 tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của các địa phương ven biển phấn đấu trên 11%/năm. Đi cùng với đó là các mục tiêu cụ thể về điện gió ngoài khơi, vận tải biển, logistics, du lịch và nuôi biển.
Muốn các địa phương ven biển trở thành động lực đóng góp hơn 70% GDP, nền kinh tế biển không thể tiếp tục phát triển theo kiểu từng ngành đi một hướng, từng địa phương tự xây dựng một hệ sinh thái khép kín cho mình. Nguồn lực phải được tập trung, phân công phải rõ và liên kết vùng phải trở thành cấu trúc thực tế của nền kinh tế.
Hình thành cực tăng trưởng mới
Nghị quyết 20 đã phác họa khá rõ cấu trúc cần có của những trung tâm kinh tế biển mới khi yêu cầu “hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang và các vùng động lực có năng lực cạnh tranh cao, gắn kết chặt chẽ với mạng lưới đô thị quốc gia”, đồng thời “hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics, năng lượng và đổi mới sáng tạo gắn với lợi thế vùng, miền”.
Trung tâm kinh tế biển Việt Nam trong tương lai phải được nhìn trong tương quan với các trung tâm hàng hải, logistics, công nghiệp và dịch vụ biển. Ảnh minh họa: TTXVN
Trung tâm kinh tế biển mạnh cần có cảng biển, nhưng cảng phải nối được với hệ thống logistics và vùng sản xuất. Hình thành khu công nghiệp phải dựa trên lợi thế và nhu cầu thực của chuỗi kinh tế biển. Khu đô thị phải cung cấp dịch vụ, nhân lực, khoa học, giáo dục và môi trường sống đủ sức thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Trung tâm kinh tế biển Việt Nam trong tương lai phải được nhìn trong tương quan với các trung tâm hàng hải, logistics, công nghiệp và dịch vụ biển trong khu vực. Khi đó, chất lượng hạ tầng, thời gian thông quan, chi phí logistics, năng lực dịch vụ, công nghệ, nhân lực và môi trường kinh doanh đều trở thành những chỉ tiêu cạnh tranh trực tiếp.
Gỡ nút thắt để phát triển bền vững
Từ nghị quyết của Trung ương, Chính phủ cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 về chương trình hành thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Mục tiêu lớn được xác định là “thể chế hóa và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết số 20-NQ/TW; cụ thể hóa Chương trình hành động của Bộ Chính trị thành các nhiệm vụ quản lý, điều hành của Chính phủ”.
Trong 9 nhóm nhiệm vụ, một nội dung được xác định riêng: “Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển”.
Chương trình hành động đã chuyển câu chuyện trung tâm kinh tế biển từ định hướng sang một loạt công việc cụ thể. Nhưng để 5-6 trung tâm dự kiến hình thành thực sự trở thành cực tăng trưởng, ít nhất ba nút thắt lớn phải được tháo gỡ.
Đầu tiên là thể chế và quy hoạch, Chính phủ yêu cầu “rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan... bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; tháo gỡ các điểm nghẽn, chồng chéo, mâu thuẫn”.
Thực tế, hoạt động kinh tế biển liên quan đồng thời đến đất đai, mặt nước, tài nguyên, môi trường, hàng hải, năng lượng, quốc phòng, an ninh và nhiều loại quy hoạch. Một dự án lớn có thể chịu tác động của nhiều lớp pháp luật và cơ quan quản lý. Nếu những điểm giao này chưa được xử lý, chi phí thời gian và rủi ro đầu tư sẽ rất lớn.
Cùng với hoàn thiện pháp luật, Chính phủ yêu cầu “tổ chức rà soát, cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; xây dựng quy định về phân vùng chức năng, sử dụng không gian biển, bản đồ số và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý.
Nút thắt thứ hai nằm ở hạ tầng. Nghị quyết 20 yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng biển, ven biển, hải đảo; ưu tiên hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, số và năng lượng; kết nối các phương thức vận tải, các vùng động lực ven biển với trung tâm kinh tế lớn và mạng logistics quốc tế.
Điểm nghẽn thứ ba là năng lực công nghệ và doanh nghiệp. Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính của quá trình xây dựng quốc gia biển mạnh.
Chính phủ cũng yêu cầu phát triển kinh tế hàng hải, cảng biển xanh, thông minh, đội tàu vận tải, công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu và dịch vụ logistics; “bảo đảm kết nối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không”, đồng thời xây dựng Chương trình Quốc gia về công nghiệp hàng hải và cơ khí biển.
Nếu chỉ cung cấp mặt bằng, cảng biển và nguồn tài nguyên, nền kinh tế chủ yếu hưởng phần giá trị thấp. Muốn đi sâu vào chuỗi giá trị biển, doanh nghiệp phải từng bước tham gia thiết kế, chế tạo, vận hành, bảo dưỡng thiết bị và công trình biển; phát triển logistics, dịch vụ kỹ thuật, công nghệ số và các lĩnh vực kinh tế biển mới.
Chương trình hành động cũng mở hướng đối với nuôi biển công nghệ cao, dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển.
Những lĩnh vực trên cho thấy, cảng biển, thủy sản hay du lịch vẫn quan trọng, nhưng tương lai của kinh tế biển còn nằm trong năng lượng, dữ liệu, công nghệ sinh học, cơ khí biển và những ngành sử dụng hàm lượng tri thức cao. Do đó, mục tiêu hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh cần được nhìn như một quá trình tạo dựng những hệ sinh thái sản xuất và dịch vụ có năng lực cạnh tranh, thay vì cuộc chạy đua để có thêm các khu kinh tế hay dự án quy mô lớn.
Khi ấy, mục tiêu đến năm 2045 mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh về một Việt Nam “giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến” sẽ được đặt trên nền tảng của những năng lực kinh tế thực chất và phát triển bền vững.
Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh: “Phát triển các khu kinh tế ven biển theo hướng hiện đại, đa ngành, đa chức năng, gắn kết chặt chẽ với các trung tâm kinh tế và hành lang biển. Xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội, có năng lực cạnh tranh quốc tế cao để phát triển các khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do và các cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị biển trở thành động lực tăng trưởng quan trọng; hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực”.