Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng đã chia sẻ góc nhìn về thực trạng, đồng thời gợi mở những hướng đi chiến lược để khu vực tư nhân bứt phá trong giai đoạn tới.
TS. Bùi Thanh Minh - Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng. Ảnh: Hải Long
Kiến tạo năng lực cạnh tranh quốc gia
- Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, hướng tới vị thế quốc gia công nghiệp hiện đại, theo ông đâu sẽ là sứ mệnh mới của kinh tế tư nhân trong cấu trúc tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn tới?
TS. Bùi Thanh Minh: Sứ mệnh mới của kinh tế tư nhân là trở thành lực lượng kiến tạo năng lực cạnh tranh quốc gia, chủ công để vượt bẫy thu nhập trung bình để thực hiện khát vọng 100 năm là Việt Nam trở thành nước thu nhập cao.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đạt nhiều thành tựu với mô hình tăng trưởng dựa vào mở cửa, xuất khẩu, thu hút FDI và lợi thế lao động, tài nguyên. Nhờ đó, nền kinh tế vượt mốc 500 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới, duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao. Tuy nhiên, đà tăng đang chậm lại, tiệm cận ngưỡng của "bẫy thu nhập trung bình”".
Dư địa của mô hình tăng trưởng cũ đang dần thu hẹp. Nếu tiếp tục dựa vào gia công, lao động giá rẻ, mở rộng vốn và khu vực FDI, Việt Nam dễ rơi vào "bẫy thu nhập trung bình". Vì vậy, định hướng tăng trưởng hai con số gắn với mô hình mới là bước chuyển chiến lược cần thiết để tiến tới mục tiêu quốc gia công nghiệp hiện đại, thu nhập cao.
Điều Việt Nam cần trong giai đoạn tới không dừng ở việc "tăng tốc" mà phải thay đổi chính động cơ của tăng trưởng. Động cơ mới phải đặt trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất, quản trị hiện đại và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Trong đó, khu vực tư nhân có vai trò đặc biệt bởi đây là khu vực gần thị trường nhất, linh hoạt nhất và sẵn sàng chấp nhận rủi ro nhất trong đổi mới công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh.
Vì vậy, Nghị quyết 68 không nên chỉ được hiểu là một chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân. Đây là một bước tái định vị cấu trúc phát triển doanh nghiệp quốc gia: từ số lượng sang chất lượng, từ phân tán sang liên kết, từ gia công sang đổi mới sáng tạo, từ thị trường nội địa sang năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Mục tiêu là kiến tạo một khu vực tư nhân đủ lực đóng góp 55-58% GDP, tạo việc làm cho 84-85% lao động. Quan trọng hơn, phải hình thành những doanh nghiệp Việt Nam đủ sức dẫn dắt ngành, làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Kinh tế tư nhân là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Ảnh minh họa
Nhận diện điểm nghẽn
- Theo ông, đâu là nguyên nhân khiến khu vực tư nhân đến nay vẫn chưa hình thành được các mạng lưới doanh nghiệp có sức lan tỏa lớn? Cần chính sách gì để thúc đẩy sự hình thành những hệ sinh thái công nghiệp, công nghệ và đổi mới sáng tạo đủ sức tạo ra các "cực tăng trưởng" mới cho nền kinh tế?
TS. Bùi Thanh Minh: Điểm nghẽn lớn của khu vực tư nhân nằm ở sự thiếu vắng các cấu trúc liên kết đủ mạnh. Doanh nghiệp Việt năng động nhưng phần lớn quy mô nhỏ, năng lực công nghệ và quản trị còn hạn chế, hoạt động rời rạc.
Xuất khẩu tăng trưởng ấn tượng song năng lực nội sinh chưa theo kịp. Khu vực FDI chiếm khoảng 77,3% kim ngạch xuất nhập khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ đạt 22,7%. Điều đó cho thấy Việt Nam hội nhập sâu nhưng doanh nghiệp nội vẫn đứng ngoài nhiều khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi. Vì sao trên chính thị trường của mình, doanh nghiệp nội tiếp tục bị bỏ xa, đó là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững không thể dựa vào các doanh nghiệp nhỏ hoạt động rời rạc. Cần hình thành hệ sinh thái, trong đó doanh nghiệp lớn giữ vai trò dẫn dắt, doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia như vệ tinh; viện, trường cung cấp tri thức, quỹ đầu tư cung cấp vốn, Nhà nước kiến tạo hạ tầng và thể chế. Chính sách vì thế phải chuyển từ hỗ trợ từng doanh nghiệp sang kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Các chương trình cụ thể hóa Nghị quyết 68, như chương trình 1.000 doanh nghiệp tiên phong cần được đặt trong cách tiếp cận này. Vấn đề không nằm ở việc chọn một nhóm doanh nghiệp để hỗ trợ mà phải xây dựng lớp doanh nghiệp nòng cốt đủ sức dẫn dắt và lan tỏa, kéo theo sự phát triển của toàn bộ hệ sinh thái.
Mục tiêu đến năm 2030 phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong, trong đó có 200 doanh nghiệp tăng trưởng bứt phá và 20 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là bước đi quan trọng để hình thành các cực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, hệ sinh thái khó hình thành khi chi phí liên kết còn cao. Thủ tục đầu tư kéo dài, đất đai khó tiếp cận, tiêu chuẩn thiếu rõ ràng, thanh tra chồng chéo, chính sách thiếu tính dự báo sẽ làm doanh nghiệp ngại đầu tư dài hạn và hạn chế liên kết sâu.
Vì vậy, cải cách hành chính không dừng ở việc cắt giảm giấy tờ, đó là nền "hạ tầng mềm" của niềm tin. "Luật chơi" minh bạch hơn, chi phí tuân thủ giảm xuống, rủi ro thực thi được kiểm soát, doanh nghiệp mới dám "lớn lên" cùng nhau.
Thế giới đổi "luật chơi", Việt Nam phải đổi cách tiếp cận
- Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào các ngành chiến lược của thế giới như AI, bán dẫn, xe điện, năng lượng tái tạo hay hạ tầng công nghệ cao. Theo ông, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện đang đứng ở đâu trong cuộc đua này? Việt Nam cần cách tiếp cận như thế nào để vừa tạo ra các "doanh nghiệp đầu đàn", vừa hình thành được hệ sinh thái công nghiệp đủ sức cạnh tranh quốc tế?
TS. Bùi Thanh Minh: Thế giới đang chuyển sang giai đoạn thương mại gắn với an ninh chuỗi cung ứng, công nghệ và tự chủ chiến lược. Toàn cầu hóa không biến mất nhưng đang được tái cấu trúc, từ tối ưu hóa chi phí sang tối ưu hóa khả năng chống chịu. Các nước lớn đều quay lại mạnh mẽ với chính sách công nghiệp: Trung Quốc có "Made in China 2025"; Hoa Kỳ thúc đẩy sản xuất bán dẫn, công nghệ cao, năng lượng sạch và các ngành chiến lược; Đức và châu Âu đẩy mạnh Công nghiệp 4.0, AI, tự động hóa, chuyển đổi xanh và tự chủ chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, nếu Việt Nam chỉ tiếp tục đứng ở vị trí gia công, chúng ta sẽ bỏ lỡ một giai đoạn cửa sổ phát triển rất quan trọng.
Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện đã có một số điểm sáng trong công nghệ thông tin, phần mềm, xe điện, năng lượng tái tạo, logistics, thương mại điện tử và hạ tầng số. Nhưng với các ngành đòi hỏi công nghệ lõi, vốn dài hạn, R&D sâu và nhân lực chất lượng cao như bán dẫn, AI nền tảng, pin lưu trữ quy mô lớn, vật liệu mới, trung tâm dữ liệu, thì chúng ta vẫn đang ở giai đoạn đầu.
Cách tiếp cận đúng không phải là kỳ vọng doanh nghiệp Việt Nam ngay lập tức làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị, mà là chọn đúng điểm vào và từng bước leo lên các nấc thang giá trị cao hơn.
Với bán dẫn, có thể bắt đầu từ thiết kế, kiểm thử, đóng gói, đào tạo nhân lực và R&D. Với AI, cơ hội rất lớn nằm ở ứng dụng vào sản xuất, logistics, tài chính, nông nghiệp, giáo dục, y tế, hành chính công và quản trị doanh nghiệp. Với năng lượng tái tạo, cơ hội ngoài ở việc phát điện còn ở thiết bị, lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh, tín chỉ carbon và tài chính xanh.
Nhà nước đã có nhiều chính sách, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, tạo cơ sở quan trọng để tập trung nguồn lực phát triển các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và các sản phẩm có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh quốc gia thay thế Quyết định 1131/2025/QĐ-TTg đã được ban hành, tạo ra định hướng chiến lược.
Trong chính sách hỗ trợ, phải dựa trên thành tựu, sản phẩm, phải tạo ra thị trường, hạ tầng, dữ liệu, sandbox, mua sắm công đổi mới sáng tạo và cơ chế chia sẻ rủi ro ban đầu. Doanh nghiệp tư nhân là lực lượng biến chính sách công nghiệp thành năng lực cạnh tranh thực tế. Họ là người đầu tư, thử nghiệm, thất bại, điều chỉnh và mở thị trường. Vì vậy, nếu muốn bước vào các ngành chiến lược, Việt Nam phải đặt doanh nghiệp tư nhân vào trung tâm của chính sách công nghiệp mới.
Các chính sách nên được thiết kế theo hướng khuyến khích doanh nghiệp dám nghĩ, dám làm. Ảnh minh họa
"Đại bàng" cần bay xa, "chim sẻ" cũng phải lớn lên
- Mục tiêu hình thành các tập đoàn tư nhân tỷ USD của Việt Nam đang được nhắc đến ngày càng nhiều trong các chiến lược phát triển quốc gia. Theo ông, Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện nền tảng gì để có thể xuất hiện thêm những tập đoàn tư nhân thực sự mang dấu ấn toàn cầu?
TS. Bùi Thanh Minh: Thực tế cho thấy khoảng cách của doanh nghiệp Việt Nam trên bản đồ doanh nghiệp toàn cầu vẫn còn rất lớn. Việt Nam đã có một số doanh nghiệp quy mô lớn trong nước và khu vực nhưng số lượng doanh nghiệp đủ tầm xuất hiện trong các bảng xếp hạng toàn cầu còn rất khiêm tốn.
Chẳng hạn, trong Forbes Global 2000 năm 2025, Việt Nam chỉ có 8 doanh nghiệp, thấp hơn đáng kể so với quy mô dân số, độ mở thương mại và tham vọng phát triển của nền kinh tế. Ngay trong khu vực, số lượng doanh nghiệp Việt Nam trong Fortune Southeast Asia 500 năm 2025 là 76, thấp hơn Indonesia với 109, Thái Lan 100, Malaysia 92 và Singapore 81. Điều đó cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã lớn hơn nhiều so với trước, nhưng vẫn còn nhỏ bé nếu đặt trong tương quan khu vực và thế giới.
Vì vậy, bài toán đặt ra không dừng ở việc gia tăng số lượng doanh nghiệp lớn về doanh thu mà là hình thành những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế thực chất. Một doanh nghiệp có thể lớn nhờ thị trường nội địa, bất động sản, tài chính hoặc khai thác lợi thế sẵn có nhưng để trở thành tập đoàn toàn cầu, họ phải có công nghệ, tài sản trí tuệ, quản trị minh bạch, thương hiệu quốc tế và khả năng tham gia vào những khâu có giá trị cao trong chuỗi cung ứng.
Điều kiện đầu tiên là thể chế ổn định và có tính dự báo. Doanh nghiệp chỉ dám đầu tư dài hạn khi luật chơi rõ ràng, quyền tài sản được bảo vệ, thủ tục minh bạch và chi phí tuân thủ có thể dự đoán.
Điều kiện thứ hai là nâng cấp năng lực quản trị. Chương trình đào tạo 10.000 CEO đến năm 2030 hướng tới hình thành đội ngũ lãnh đạo có tư duy toàn cầu, đủ năng lực quản trị tài chính, dữ liệu, nhân sự, ESG, pháp lý và rủi ro quốc tế.
Điều kiện thứ ba là biến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành năng lực thực chất trong doanh nghiệp. Các mục tiêu về R&D, kinh tế số hay TFP chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, dữ liệu, sở hữu trí tuệ và thương hiệu.
Điều kiện thứ tư là hỗ trợ doanh nghiệp Go Global một cách bài bản. Go Global không dừng ở xuất khẩu hàng hóa, mà là đưa thương hiệu, công nghệ, vốn, quản trị và cả chuỗi cung ứng của Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế. Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu 10.000 lượt doanh nghiệp được đào tạo về đầu tư, kinh doanh toàn cầu; 1.000 doanh nghiệp được tư vấn xây dựng kế hoạch ra thị trường quốc tế; 100 doanh nghiệp được hỗ trợ chuyên sâu để đầu tư ra nước ngoài, trong đó 30% theo phương thức M&A.
Đây là hướng tiếp cận đúng vì doanh nghiệp Việt Nam không thể ra thế giới chỉ bằng ý chí; họ cần thông tin thị trường, pháp lý quốc tế, tài chính, bảo hiểm rủi ro, kết nối phân phối và bảo vệ thương hiệu.
Nếu muốn có tập đoàn tư nhân toàn cầu, doanh nghiệp phải vượt qua tâm lý hài lòng với doanh nghiệp "lớn trong nước"; nhà nước phải vượt qua những nghi ngại về doanh nghiệp lớn. Đích đến của chúng ta phải là có những doanh nghiệp Việt Nam đủ sức đặt tên mình trên bản đồ công nghệ, thương hiệu và chuỗi giá trị toàn cầu.
Nếu đổi mới năm 1986 giải phóng sức sản xuất từ lao động, đất đai, thị trường và hội nhập thì giai đoạn phát triển mới này phải giải phóng được năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng kinh doanh toàn cầu của người Việt Nam. Bên cạnh "đại bàng Việt" cũng cần có không gian cho "đàn chim sẻ" - những doanh nghiệp vừa và nhỏ và khu vực hộ kinh doanh đang thay đổi để thích nghi với giai đoạn phát triển mới.
Xin cảm ơn ông!
Theo dữ liệu của Bộ Tài chính, năm 2025 ghi nhận gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm trước. Trong đó, có gần 195.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 24,1%; hơn 102.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 34,3%. Tổng số doanh nghiệp hoạt động trên cả nước đã vượt mốc 1,02 triệu, tiến gần hơn mục tiêu hình thành khu vực kinh tế tư nhân quy mô lớn, đủ sức dẫn dắt tăng trưởng.
Song song đó, đóng góp ngân sách của khu vực ngoài quốc doanh cũng tăng đáng kể. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 của khu vực này ước đạt hơn 497.000 tỷ đồng, bằng 134,2% dự toán và tăng 26,8% so với cùng kỳ. Riêng thu từ hộ và cá nhân kinh doanh tăng hơn 36,3%, cao nhất trong giai đoạn 2021 - 2025.