Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Minh Phong - Thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, công tác xúc tiến thương mại nói chung, các hội chợ, triển lãm lớn được Bộ Công Thương tổ chức những năm gần đây không chỉ kéo được nhiều nhà mua hàng tới Việt Nam mà còn giúp lan tỏa rộng thương hiệu thời trang Việt trên thị trường trong nước và quốc tế.
Ông cũng cho rằng, để tận dụng hiệu quả các sự kiện xúc tiến thương mại này, doanh nghiệp cần đầu tư dài hạn vào thương hiệu, công nghiệp hỗ trợ và năng lực đổi mới sáng tạo.
Giúp doanh nghiệp nâng vị thế, mở rộng thị trường
- Ông đánh giá ra sao về hiệu quả của các hội chợ, triển lãm lớn có quy mô quốc tế được tổ chức tại Việt Nam thời gian gần đây? Doanh nghiệp cần tận dụng những cơ hội gì để gia tăng giá trị và khai thác hiệu quả từ các hoạt động xúc tiến này?
TS. Nguyễn Minh Phong: Trước hết phải khẳng định, xúc tiến thương mại, đặc biệt là xúc tiến thương mại quốc tế, đang giữ vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
TS. Nguyễn Minh Phong - Thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Thời gian gần đây, Việt Nam đã có bước chuyển biến rất mạnh cả về nhận thức, hành động và cách thức tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Nhiều sự kiện mang tầm quốc tế được triển khai với quy mô lớn, đa dạng về hình thức, phủ rộng nhiều ngành hàng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp cùng hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.
Điểm đáng ghi nhận là các chương trình hiện không chỉ dừng lại ở hoạt động hội chợ hay kết nối giao thương mà còn kết hợp các hội thảo, đào tạo, tư vấn, nghiên cứu thị trường. Qua đó, doanh nghiệp vừa có cơ hội gặp gỡ đối tác, vừa được cập nhật thông tin, nâng cao kỹ năng xúc tiến thương mại và năng lực hội nhập.
Hiệu quả của các hoạt động này ngày càng thể hiện rõ nét. Nhiều hợp đồng được ký kết ngay tại sự kiện, trong khi các cuộc kết nối sau hội chợ tiếp tục được duy trì, tạo nền tảng cho những hợp tác lâu dài. Quan trọng hơn, doanh nghiệp có điều kiện giới thiệu năng lực với đối tác quốc tế, tìm hiểu nhu cầu thị trường, từ đó mở rộng sản xuất, gia tăng thị phần và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu theo hướng bền vững.
- Theo ông, những hội chợ, triển lãm quốc tế được tổ chức tại Việt Nam đã đóng góp như thế nào vào quá trình xây dựng và quảng bá thương hiệu thời trang Việt trên thị trường trong nước cũng như quốc tế?
TS. Nguyễn Minh Phong: Các hoạt động xúc tiến thương mại thời gian qua đã góp phần định hướng phát triển mới cho ngành thời trang Việt Nam. Không chỉ quảng bá hình ảnh doanh nghiệp, đây còn là cơ hội để các thương hiệu tiếp cận những phân khúc thị trường có giá trị cao hơn, đặc biệt là phân khúc cận cao cấp và cao cấp.
Điều đáng mừng là nhiều doanh nghiệp thời trang Việt đã không còn chỉ dừng ở vai trò gia công theo đơn đặt hàng mà đang từng bước chủ động hơn trong thiết kế, xây dựng thương hiệu riêng và phát triển các sản phẩm có bản sắc.
Xu hướng cá nhân hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng trong và ngoài nước đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt nâng cao giá trị gia tăng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc vị thế của ngành thời trang Việt đang từng bước được cải thiện, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở những khâu có giá trị cao.
Chủ động chuỗi cung ứng và bảo vệ sáng tạo
- Thưa ông, thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, ông đánh giá như thế nào về khả năng kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài nhằm phát triển chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu, nâng cao tính tự chủ cho ngành thời trang Việt?
TS. Nguyễn Minh Phong: Qua nhiều chương trình xúc tiến thương mại mà chúng tôi trực tiếp tham gia, đặc biệt trong lĩnh vực nguyên phụ liệu dệt may, da giày, có thể thấy các sự kiện này mang lại hiệu quả rất thiết thực.
Doanh nghiệp trong nước có điều kiện gặp gỡ nhiều đối tác lớn trong khu vực và trên thế giới, từ đó hiểu rõ năng lực, nhu cầu của nhau và hình thành các mối liên kết để phát triển chuỗi cung ứng.
Thương hiệu thời trang Việt đang dần có chỗ đứng trên thị trường
Tuy nhiên, ngành thời trang Việt Nam vẫn còn phụ thuộc khá lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, nhất là các nguyên phụ liệu cao cấp. Vì vậy, việc đa dạng hóa nguồn cung, thu hút thêm các nhà đầu tư nước ngoài và phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước là yêu cầu rất cấp thiết.
Hiện nay, vẫn còn hai điểm nghẽn lớn. Thứ nhất, Việt Nam chưa hình thành được sàn giao dịch nguyên phụ liệu chuyên ngành. Đây là nhu cầu đã được cộng đồng doanh nghiệp dệt may, da giày đặt ra từ nhiều năm nhưng chưa trở thành hiện thực. Nếu có những trung tâm giao dịch chuyên nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn để thu hút đầu tư, kết nối doanh nghiệp và phát triển chuỗi cung ứng.
Thứ hai, chiến lược đầu tư dài hạn về công nghệ và công nghiệp hỗ trợ của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế, khiến nhu cầu hợp tác chưa đủ sức hấp dẫn các đối tác lớn.
Theo tôi, các địa phương có lợi thế như TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng… cần sớm hỗ trợ hình thành các trung tâm, sàn giao dịch nguyên phụ liệu, đồng thời quy hoạch các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, phát triển hạ tầng công nghiệp hỗ trợ để từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm chi phí và tăng sức chống chịu trước các biến động thương mại quốc tế.
- Tại thị trường trong nước, thương hiệu thời trang Việt vẫn gặp nhiều áp lực trước các thương hiệu nước ngoài, theo ông, đâu là những vấn đề cần được giải quyết để thời trang Việt tạo dựng niềm tin và nâng cao sức cạnh tranh?
TS. Nguyễn Minh Phong: Có thể thấy thời trang Việt đang được thị trường quan tâm hơn trước. Nhiều doanh nghiệp, nhà thiết kế đã xây dựng được phong cách riêng và từng bước khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế lớn. Đầu tiên có thể kể tới là sự kết nối giữa các nhà thiết kế trong nước với các trung tâm thiết kế quốc tế còn hạn chế. Điều này khiến việc cập nhật xu hướng, nghiên cứu mẫu mã và định hình thương hiệu ở phân khúc cao cấp chưa đạt như kỳ vọng. Không ít doanh nghiệp vẫn chủ yếu tập trung vào những thị trường truyền thống, quy mô nhỏ thay vì hướng tới các phân khúc có giá trị gia tăng cao.
Cùng đó là công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều mẫu thiết kế sau khi ra thị trường nhanh chóng bị sao chép, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp và nhà thiết kế, cũng làm giảm động lực đầu tư cho sáng tạo.
Tôi cho rằng, nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay đang chuyển mạnh sang các sản phẩm thời trang có tính cá nhân hóa, chất lượng cao và mang dấu ấn riêng. Đây là cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp Việt. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh thực sự, doanh nghiệp cần đầu tư bài bản hơn cho thiết kế, thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đồng thời, tận dụng hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường và nâng cao vị thế của thời trang Việt trên bản đồ thế giới.
- Xin cảm ơn ông!
Các hoạt động xúc tiến thương mại nói chung, hội chợ, triển lãm mang quy mô quốc tế nói riêng được tổ chức tại Việt Nam những năm gần đây trở thành điểm đến quen thuộc của các nhà mua hàng, đồng thời giúp thương hiệu thời trang Việt lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa.