Đóng

TS. Võ Trí Thành: Năng lượng xanh tạo 'điểm cộng' thu hút FDI

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gắn với tiêu chuẩn xanh, năng lượng sạch đang trở thành một thước đo mới về sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.

Trao đổi với Báo Công Thương, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh đã phân tích những yêu cầu đặt ra để Việt Nam biến tiềm năng năng lượng xanh thành lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI chất lượng cao.

TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh FDI

- Thưa ông, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gắn với tiêu chuẩn xanh, năng lượng sạch đang làm thay đổi lợi thế cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam như thế nào?

TS. Võ Trí Thành: Phải nhìn câu chuyện năng lượng xanh trong bức tranh rộng hơn của cạnh tranh phát triển. Trước đây, nói đến sức hấp dẫn của môi trường đầu tư chúng ta thường nhắc đến ổn định chính trị, chi phí lao động, ưu đãi thuế, vị trí địa kinh tế và khả năng tiếp cận thị trường. Những yếu tố đó vẫn quan trọng nhưng trong cuộc chơi mới như vậy chưa đủ.

Nhà đầu tư hiện nay đang nhìn môi trường đầu tư bằng lăng kính rộng hơn. Bên cạnh chi phí sản xuất, quỹ đất, tốc độ thủ tục, họ đặc biệt quan tâm đến độ ổn định của nguồn điện, tỷ lệ điện sạch, khả năng đo lường phát thải trong chuỗi sản xuất, mức độ đáp ứng tiêu chuẩn ESG và cơ hội để sản phẩm sản xuất tại Việt Nam tiếp cận các thị trường ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn xanh. Đây là dịch chuyển rất rõ trong tiêu chí lựa chọn điểm đến đầu tư, vì thế năng lượng xanh đang chuyển từ lợi thế bổ sung thành điều kiện, "điểm cộng" cạnh tranh.

Các tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, công nghệ cao, dệt may, da giày, logistics và công nghiệp hỗ trợ, yêu cầu về điện sạch ngày càng rõ. Một quốc gia có nguồn năng lượng xanh đáng tin cậy, cơ chế minh bạch và hạ tầng đủ năng lực, quốc gia đó có thêm một điểm cộng lớn trong mắt nhà đầu tư.

Đặc biệt, sau khi Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được ban hành, dòng vốn ngoại đang dịch chuyển rõ rệt sang các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng xanh và hạ tầng thông minh - những trụ cột quan trọng của mô hình tăng trưởng bền vững.

Việt Nam có tiềm năng rất lớn, chúng ta có năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy điện và dư địa phát triển các mô hình năng lượng mới. Vấn đề là tiềm năng không tự biến thành lợi thế, lợi thế chỉ hình thành khi nhà đầu tư nhìn thấy khả năng cung ứng ổn định, chính sách nhất quán, cơ chế giá hợp lý và hệ thống truyền tải đủ năng lực. Nói cách khác, phải biến tài nguyên xanh thành năng lực xanh.

Vượt qua lợi thế rẻ, bước vào lợi thế xanh

- Theo ông, yêu cầu về điện sạch, ESG và chuỗi cung ứng xanh đang đặt ra sức ép gì đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư quốc tế?

TS. Võ Trí Thành: Cần nhìn sức ép này bằng thái độ bình tĩnh. Đúng là có sức ép, thậm chí sức ép rất lớn... nhưng trong phát triển sức ép đôi khi lại là động lực cải cách mạnh nhất. Nếu biết tận dụng đó sẽ là cú hích để Việt Nam nâng cấp mô hình tăng trưởng.

Chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện của cam kết quốc tế, nó đi vào từng hợp đồng, đơn hàng, chuỗi cung ứng, quyết định đầu tư. Người tiêu dùng ở các thị trường phát triển ngày càng quan tâm sản phẩm được sản xuất như thế nào; các tập đoàn đa quốc gia phải báo cáo phát thải, thực hiện cam kết ESG, kiểm soát nhà cung ứng và giảm dấu chân carbon trong toàn bộ chuỗi giá trị. Vì vậy, địa điểm đầu tư nào đáp ứng tốt hơn yêu cầu xanh sẽ có lợi thế rõ hơn.

Rõ ràng, điện sạch nằm ở trung tâm của bài toán đó. Doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ, tiết kiệm năng lượng, quản trị phát thải tốt hơn nhưng nếu nguồn điện đầu vào vẫn phụ thuộc lớn vào năng lượng phát thải cao, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xanh sẽ bị hạn chế. Với nhà đầu tư quốc tế, câu hỏi không chỉ là "Việt Nam có đủ điện không?" mà là "Việt Nam có đủ điện sạch, ổn định, cạnh tranh và có thể chứng nhận được không?".

Năng lượng xanh trở thành đòn bẩy quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn đầu tư mới. Ảnh minh họa

Sức ép ESG cũng buộc doanh nghiệp trong nước thay đổi. Trước đây, nhiều doanh nghiệp nghĩ xanh là chi phí, bây giờ phải nhìn khác. Xanh là điều kiện để tồn tại trong thị trường mới, nếu không đáp ứng được tiêu chuẩn xanh, doanh nghiệp có thể mất đơn hàng, mất cơ hội tham gia chuỗi cung ứng và mất khả năng tiếp cận vốn. Ngược lại, nếu đáp ứng tốt doanh nghiệp có thể bán được hàng ở thị trường khó tính hơn, hợp tác sâu hơn với các tập đoàn lớn và nâng giá trị thương hiệu.

Do đó với Việt Nam thách thức rất rõ, chúng ta phải nâng cấp thể chế, phát triển thị trường năng lượng, đầu tư lưới điện, xây dựng cơ chế chứng nhận năng lượng tái tạo, thúc đẩy tài chính xanh và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi.

Song cũng phải nói thẳng, đây là cơ hội để Việt Nam thoát khỏi mô hình cạnh tranh dựa quá nhiều vào chi phí thấp. Nếu vẫn cạnh tranh chủ yếu bằng đất rẻ, lao động rẻ và ưu đãi thuế... chúng ta sẽ khó đi xa. Cuộc chơi mới đòi hỏi năng lực cao hơn: năng lượng xanh, công nghệ, quản trị, nhân lực, tiêu chuẩn và liên kết chuỗi. Không nên coi sức ép từ điện sạch và ESG là hàng rào, mà phải xem đó là bộ lọc phát triển. Bộ lọc đó buộc chúng ta chọn dòng vốn tốt hơn, doanh nghiệp tốt hơn và mô hình tăng trưởng bền vững hơn. 

Năng lượng xanh quyết định vị thế mới

- Việt Nam cần làm gì để biến chuyển đổi năng lượng thành động lực thu hút FDI chất lượng cao, nâng năng lực cạnh tranh quốc gia và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, thưa ông?

TS. Võ Trí Thành: Phải đặt chuyển đổi năng lượng trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, nếu chỉ coi đây là câu chuyện của ngành điện chúng ta sẽ nhìn quá hẹp. Chuyển đổi năng lượng liên quan đến công nghiệp, thương mại, đầu tư, tài chính, khoa học công nghệ, đô thị, giao thông và cả thương hiệu quốc gia.

Trước hết, FDI thế hệ mới phải gắn với giá trị mới. Phải xác định rõ muốn thu hút loại đầu tư nào, không thể nói mãi câu chuyện thu hút thật nhiều vốn. Vấn đề là vốn đó đem lại công nghệ gì, kỹ năng quản trị gì, liên kết với doanh nghiệp trong nước ra sao, đóng góp thế nào cho đổi mới sáng tạo và có phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững không? 

Thứ hai, phải nâng cấp nền tảng năng lượng. Nhà đầu tư chất lượng cao cần điện ổn định, giá cạnh tranh, tỷ lệ năng lượng sạch ngày càng cao và khả năng chứng minh nguồn điện xanh. Điều này đòi hỏi phát triển năng lượng tái tạo, đầu tư lưới truyền tải, thúc đẩy lưu trữ, hoàn thiện thị trường điện cạnh tranh và xây dựng cơ chế mua bán điện trực tiếp minh bạch hơn. Nếu không giải được bài toán năng lượng rất khó nói đến công nghiệp xanh và chuỗi cung ứng xanh.

Thứ ba, phải phát triển tài chính xanh. Chuyển đổi năng lượng cần nguồn lực rất lớn, ngân sách nhà nước không thể làm tất cả. Cần huy động vốn tư nhân, vốn quốc tế, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các công cụ tài chính mới... nhưng dòng vốn này chỉ đến khi có dự án tốt, khung pháp lý rõ và khả năng kiểm soát rủi ro đủ tin cậy.

Thứ tư, phải nâng cấp doanh nghiệp trong nước. Nếu FDI xanh vào Việt Nam nhưng doanh nghiệp nội địa không tham gia được chuỗi cung ứng, giá trị giữ lại sẽ hạn chế. Do đó, chuyển đổi năng lượng cần đi cùng phát triển công nghiệp hỗ trợ, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và nâng chuẩn quản trị. Đây là cách để Việt Nam trở thành một mắt xích có giá trị cao hơn trong chuỗi toàn cầu.

Sau cùng là thương hiệu quốc gia. Một quốc gia xanh hơn, có năng lực thực thi tốt hơn và có môi trường đầu tư đáng tin cậy hơn sẽ có thương hiệu mạnh hơn. Trong kỷ nguyên mới, thương hiệu quốc gia được bồi đắp từ nhiều nền tảng: chất lượng thể chế, chất lượng hạ tầng, năng lực doanh nghiệp và chất lượng tăng trưởng.

Xin cảm ơn ông!

Dòng vốn FDI tiếp tục khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam. Bất chấp những biến động phức tạp của kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì sức hút mạnh mẽ trong mắt nhà đầu tư quốc tế. Năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. 4 tháng đầu năm 2026, đạt 18,24 tỷ USD (tăng 32% so với cùng kỳ) và vốn thực hiện đạt 7,4 tỷ USD (mức cao nhất trong 5 năm qua).

Nguyên Thảo (thực hiện)