Đúng dịp 101 năm báo chí cách mạng Việt Nam, trong bài viết "Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số" công bố ngày 18 tháng 6 năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có những phân tích hết sức sâu sắc khiến những người làm báo chúng ta suy ngẫm về chỗ đứng của nghề báo giữa thời đại trí tuệ nhân tạo hôm nay.
Mở đầu bài viết, đồng chí nhấn mạnh: "Sau hơn một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển rất mới, rất khác trên hầu hết các phương diện. Không gian số đã trở thành một thành tố thiết yếu của đời sống thực hằng ngày. Công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới đã làm thay đổi tận gốc cách thông tin được tạo ra, phân phối, tiếp nhận và kiểm chứng."
Nhưng ngay sau đó, người đứng đầu Đảng và Nhà nước khẳng định một điều có sức nặng của một định hướng chiến lược cho cả nền báo chí: "Tuy nhiên, sự thay đổi đó không làm giảm vai trò của báo chí cách mạng. Trái lại, khi thông tin quá nhiều, xã hội càng cần những địa chỉ đáng tin cậy để xác định điều gì đúng, điều gì còn phải kiểm chứng, điều gì chỉ là cảm xúc đám đông hoặc sự sắp đặt có chủ ý. Điều đó đòi hỏi sự chuyên nghiệp, thái độ lao động nghề nghiệp nghiêm túc và bản lĩnh trước mọi sức ép. Báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy, không phải nơi chạy theo xu hướng. Xã hội cần nơi tin cậy để hiểu đúng sự thật. Người dân cần biết việc gì đã xảy ra, vì sao xảy ra, tác động đến ai, trách nhiệm thuộc về đâu và giải pháp nào có cơ sở."
Chỉ đạo ấy gói trọn lời giải cho bài toán khó nhất của nghề báo hôm nay. Khi công nghệ làm thông tin sinh ra nhiều đến mức bão hòa, xã hội không cần thêm thông tin nữa, mà cần một chỗ để đặt niềm tin.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không kêu gọi báo chí chạy đua tốc độ với cỗ máy, một cuộc đua mà con người khó thắng. Đồng chí chỉ ra một chỗ đứng khác hẳn và cao hơn: nơi nhân dân tìm đến để xác nhận điều gì là thật, điều gì cần kiểm chứng, điều gì chỉ là cảm xúc đám đông hay sự sắp đặt có chủ ý. Chỗ đứng ấy không có thuật toán nào chiếm được, bởi nó dựng trên sự chuyên nghiệp, thái độ lao động nghề nghiệp nghiêm túc và bản lĩnh trước mọi sức ép, những thứ chỉ con người có lương tri và trách nhiệm mới mang lại được. Và đồng chí định luôn thước đo cho một nền báo chí xứng đáng với niềm tin ấy: phải trả lời cho được năm câu hỏi mà người dân cần là: việc gì đã xảy ra, vì sao xảy ra, tác động đến ai, trách nhiệm thuộc về đâu và giải pháp nào có cơ sở. Đó vừa là chỗ đứng, vừa là phần việc mà báo chí cách mạng phải giành lấy và làm cho bằng được giữa thời đại số.
Mùa hè năm 2025, báo chí cách mạng Việt Nam tròn một thế kỷ kể từ ngày Báo Thanh Niên ra số đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Một trăm năm ấy, nghề báo nước ta đi qua đủ thăng trầm của dân tộc, từ những tờ báo bí mật in trong hang đá thời kỳ vận động cách mạng, tới hệ thống báo chí hiện đại hôm nay. Phương tiện đổi thay không biết bao lần, từ bản in chì tới làn sóng phát thanh, từ màn hình truyền hình tới nền tảng số, nhưng có một thứ chưa từng lung lay, đó là lý do để báo chí cách mạng tồn tại.
Lý do ấy đã được V.I. Lênin chỉ ra từ rất sớm. Người viết: "Tờ báo không những chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể." (V.I. Lênin, "Bắt đầu từ đâu?", 1901, V.I. Lênin Toàn tập, tập 5). Mệnh đề ấy không nói về một kỹ thuật làm báo nào cụ thể, nó nói về bản chất: tờ báo cách mạng sinh ra để gắn kết con người quanh một lý tưởng, để dẫn dắt nhận thức và tổ chức hành động. Đó là chức năng mà không phương tiện kỹ thuật nào, dù tân tiến đến đâu, có thể tự nó thay thế.
Trên nền tảng tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho báo chí Việt Nam một sứ mệnh dứt khoát. Tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8 tháng 9 năm 1962, Người căn dặn: "Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng." (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 13). Cũng trong bài nói ấy, Người khắc họa tư thế của người cầm bút bằng một hình ảnh đã trở thành phương châm của nhiều thế hệ: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ." (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 13). Lời dạy giản dị ấy, đến nay, vẫn còn nguyên giá trị soi đường.
Sứ mệnh thì bất biến, nhưng thời cuộc thì không đứng yên một chỗ bao giờ. Và thời cuộc hôm nay đang đặt ra cho người cầm bút một câu hỏi không dễ trả lời.
Suốt hai thập niên qua, báo chí hiện đại quen sống nhờ một dòng chảy tưởng như vô tận: công chúng gõ câu hỏi vào ô tìm kiếm, nền tảng chỉ đường, rồi họ bước vào trang báo. Nay trí tuệ nhân tạo đã chen vào giữa con đường ấy. Cỗ máy không còn chỉ làm người dẫn đường, nó tự trả lời, gói sẵn đáp án ngay trên màn hình, và công chúng nhận câu trả lời rồi rời đi, không một lần ghé qua tờ báo đã làm ra thông tin gốc. Câu hỏi đặt ra cho báo chí cách mạng vì thế không còn là làm sao đưa tin nhanh hơn cỗ máy, một cuộc đua mà con người khó thắng về tốc độ. Câu hỏi sâu hơn nhiều: khi ai cũng có thể hỏi máy mọi điều, thì báo chí cách mạng còn giữ vai trò gì trong đời sống tinh thần của nhân dân, và giữ bằng cách nào?
Để trả lời cho thấu đáo, trước hết phải nhìn cho rõ cú chuyển động đang diễn ra. Nó không phải lời cảnh báo trừu tượng, nó là một thực tế đã đo đếm được.
Dòng chảy dẫn công chúng về các trang báo đang cạn đi với tốc độ chóng mặt. Thống kê cho thấy, chỉ tính trong vòng 12 tháng năm 2025, lượng người tìm kiếm mà Google đưa về các trang báo đã giảm 33% trên phạm vi toàn cầu, riêng tại Mỹ giảm tới 38%. Con số ấy không phản ánh sự yếu kém của một tòa soạn riêng lẻ nào, nó cho thấy cả một cơ chế phân phối thông tin đang đổi chủ. Nguyên nhân nằm ở chỗ những hộp tổng hợp do trí tuệ nhân tạo dựng ngay trên trang kết quả tìm kiếm đã trả lời thay cho người dùng. Hệ quả là tỷ lệ truy vấn tin tức kết thúc mà không ai bấm vào một trang báo nào, điều giới chuyên môn gọi là zero-click, đã tăng từ 56% lên 69% chỉ trong vòng một năm, từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025.
Cánh cửa thứ hai là mạng xã hội cũng đang khép lại theo cách riêng của nó. Lượng người mà Facebook đưa về các trang báo giảm 50% chỉ trong mười hai tháng, từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024. Người làm báo nào từng đặt cược tương lai vào lượng truy cập vay mượn từ các nền tảng nay mới thấm một điều: dòng lưu lượng ấy chưa bao giờ là tài sản của mình, và khi nền tảng đổi thuật toán, nó không tự quay lại.
Cay đắng hơn cả việc mất đường dẫn là việc thay đổi trong chính thói quen của công chúng. Năm 2025, lần đầu tiên tại Mỹ, mạng xã hội và các nền tảng video vươn lên dẫn đầu về độ phủ tin tức hằng tuần với 54% công chúng, vượt qua truyền hình ở mức 50% và bỏ lại website tin tức ở mức 48%. Cái trật tự tưởng như bền vững, nơi tờ báo và màn hình truyền hình giữ vai trò trung tâm, đã bị đảo lại. Nơi nhiều người gặp tin tức bây giờ là dòng chảy bất tận của video ngắn, của những đoạn cắt, của giọng nói người dẫn quen thuộc trên điện thoại.
Vùng xoáy ấy không chừa Việt Nam. Có người vẫn nghĩ đó là chuyện của báo chí phương Tây, còn ta thì khác, nhưng đó là một sự yên tâm không có cơ sở. Năm 2024, tổng doanh thu của báo in cộng báo điện tử cả nước chỉ còn khoảng 8.080 tỷ đồng, giảm hơn 6% so với năm trước. Trong khi miếng bánh chung co lại, phần lớn nhất của nó lại đang chảy ra ngoài. Các nền tảng xuyên biên giới hiện chiếm khoảng 80% thị phần quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam, để lại cho toàn bộ báo chí trong nước vỏn vẹn khoảng 20%. Nói cách khác, báo chí Việt Nam sản xuất nội dung trên sân nhà, nhưng phần thu lớn nhất từ chính sân ấy lại rơi vào tay những người chơi ngoại quốc. Sức ép tài chính ấy dội thẳng vào nền tảng tồn tại của các cơ quan báo chí, và đặt ra yêu cầu sống còn về một hướng đi bền vững.
Đặt những con số vừa nêu bên cạnh định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ở bên trên cho thấy, phát biểu của của đồng chí không phải một nhận định chung chung, mà là câu trả lời nhắm thẳng vào cú chuyển động đang diễn ra. Lưu lượng cạn đi, doanh thu co lại, thói quen công chúng đảo chiều, tất cả đều là biểu hiện bề ngoài của một sự thật sâu hơn: thông tin đã quá nhiều, còn niềm tin thì khan hiếm. Chính vào lúc ấy, việc báo chí trở thành nơi nhân dân tìm đến để xác nhận điều gì là thật mới hiện ra như một lối đi sống còn, chứ không chỉ là một khẩu hiệu.
Bản lĩnh trước mọi sức ép mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhắc tới càng đúng trong thời đại số, bởi tốc độ lan truyền của một thông tin sai nay nhanh gấp bội thời trước, và cái giá của sự cẩu thả vì thế cũng lớn hơn bội phần. Sự chậm rãi có kiểm chứng của báo chí chính thống, điều từng bị xem là điểm yếu trước mạng xã hội, nay lại trở thành giá trị mà công chúng cần đến nhất. Tinh thần ấy cũng đã được người đứng đầu Đảng nhắn gửi khi gặp mặt các nhà báo tiêu biểu giữa tháng 6 năm 2026, rằng làm báo phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật và kiểm chứng kỹ trước khi đưa tin.
Từ trong giới báo chí cũng vang lên một tiếng nói cùng nhịp. Tại hội thảo trong khuôn khổ Hội Báo toàn quốc 2026 ở Hải Phòng, ngày 19 tháng 6 năm 2026, Tổng Biên tập Báo Nhân dân - Lê Quốc Minh gọi tình thế hiện nay là một "cú sốc kép": các tòa soạn vừa phải tái cấu trúc bộ máy bên trong, vừa đối mặt nguy cơ đứt gãy mô hình doanh thu số bên ngoài do xu hướng tìm kiếm không nhấp chuột và trí tuệ nhân tạo, mà theo ông có tới khoảng hai phần ba cơ quan báo chí chịu ảnh hưởng từ mức trung bình đến lớn.
Ông dẫn số liệu Khảo sát Báo chí Việt Nam cho thấy cả nước vốn có 733 cơ quan báo chí năm 2025, sau sắp xếp tổ chức theo Quy định 373-QĐ/TW chỉ còn 98 cơ quan, trong đó 34 cơ quan hợp nhất báo và đài phát thanh truyền hình cấp tỉnh, một cuộc tinh gọn chưa từng có. Cũng theo Reuters Digital News Report 2026 mà ông viện dẫn, niềm tin vào tin tức trên toàn cầu chỉ còn 37%, mức thấp nhất kể từ năm 2015, và có tới 56% người trẻ từ 18 đến 24 tuổi chưa từng đọc một tờ báo in một cách thường xuyên. Từ những con số ấy, ông nhấn mạnh một chuyển dịch về vai trò: trong môi trường tin tức bị trí tuệ nhân tạo trung gian hóa, báo chí đang chuyển từ vai trò người kể chuyện sang vai trò nơi để công chúng kiểm chứng, xác minh thông tin. Nhận định ấy trùng với định hướng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra.
Cũng trên tinh thần ấy, tại Hội Báo toàn quốc 2026, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, đúc kết lại trong một câu: "Công nghệ có thể thay đổi cách làm báo, nhưng không bao giờ thay đổi được sứ mệnh và lý tưởng của báo chí cách mạng Việt Nam".
Như vậy, cơn lốc số không xô đổ sứ mệnh của báo chí cách mạng, trái lại nó làm cho sứ mệnh ấy hiện ra rõ hơn bao giờ hết. Càng nhiều thông tin trôi nổi không gốc gác, xã hội càng cần một địa chỉ tin cậy. Càng nhiều câu trả lời do máy sinh ra trong tích tắc, công chúng càng khát một tiếng nói có con người đứng sau, có trách nhiệm và có lương tri. Cái mà trí tuệ nhân tạo cướp đi chỉ là một phần lưu lượng và một phần doanh thu quảng cáo, những thứ vốn đã vay mượn. Cái nó không bao giờ lấy đi được là lý do để báo chí cách mạng tồn tại, đó là phụng sự nhân dân bằng sự thật, đúng như lời Bác Hồ đã dạy rằng: nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.
Giữ được sứ mệnh thì phải có cách giữ phù hợp với thời đại mới. Một tờ báo muốn trở thành nơi xác nhận đáng tin cậy thì phải có cái để mà xác nhận, nghĩa là phải làm chủ được công nghệ làm báo hiện đại và nắm trong tay dữ liệu của chính mình, kiểm chứng được, không lệ thuộc vào thuật toán của các nền tảng nước ngoài. Đó không phải là chạy theo trào lưu công nghệ cho oai, mà là điều kiện để báo chí cách mạng vừa giữ vững vai trò dẫn dắt, vừa tự đứng được trên đôi chân của mình. Công nghệ có thể thay đổi cách làm báo, nhưng sứ mệnh thì không bao giờ thay đổi. Và để làm chủ công nghệ, làm chủ dữ liệu một cách bài bản, đó là câu chuyện của kỳ sau.
Khi tri thức và khoa học hóa thành sức sản xuất, dữ liệu trở thành trụ cột của báo chí. Nhưng cái giữ tờ báo đứng vững vẫn là bản lĩnh và trái tim người làm báo.
Trong bài viết "Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt lên hàng đầu vấn đề dữ liệu và quyền chủ động của báo chí trước các nền tảng xuyên biên giới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "Trong thời đại số, dữ liệu là một trụ cột của báo chí. Dữ liệu không chỉ là con số; đó là nền tảng của kiểm chứng và phương tiện để xây dựng và chuyển tải các tác phẩm báo chí một cách thuyết phục hơn, toàn diện hơn. Các cơ quan thông tấn, báo chí lớn, uy tín trên thế giới hiện đều đầu tư rất lớn cho việc xây dựng dữ liệu và dành nguồn nhân lực đáng kể cho công tác dữ liệu. Khi dữ liệu được xây dựng và quản trị tốt, báo chí sẽ tăng sức thuyết phục và có khả năng phát hiện vấn đề từ sớm. Một vấn đề lớn khác là quyền chủ động trước các nền tảng xuyên biên giới. Báo chí cần tiếp cận được nơi công chúng hiện diện qua mọi nền tảng, nhưng không thể để lệ thuộc vào thuật toán bên ngoài. Nếu chỉ chạy theo lượt xem và cơ chế đề xuất, cơ quan báo chí dễ mất dữ liệu độc giả, mất quyền phân phối, mất bản sắc và chịu rủi ro khi thuật toán thay đổi.”
Mấy câu ấy gói trọn cả thời cuộc mà báo chí cách mạng đang đứng. Trước hết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước định danh dữ liệu không phải là một thứ tài sản phụ trợ, mà là một trụ cột. Trụ cột thì phải tự dựng lấy, không thể đi mượn. Ông chỉ rõ dữ liệu là nền tảng của kiểm chứng, mà kiểm chứng vốn là phẩm chất gốc của nghề báo, là thứ phân biệt một bản tin tin cậy với muôn vàn lời đồn trôi nổi trên mạng. Khi dữ liệu được quản trị tốt, báo chí không chỉ thuyết phục hơn mà còn phát hiện được vấn đề từ sớm, nghĩa là giành lại thế chủ động trong dòng chảy thông tin thay vì chạy theo sau sự kiện.
Sâu xa hơn cả là lời cảnh báo về quyền chủ động trước các nền tảng xuyên biên giới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không kêu gọi quay lưng với các nền tảng toàn cầu, trái lại đồng chí nhắc báo chí phải có mặt ở nơi công chúng hiện diện. Nhưng có mặt khác với lệ thuộc. Cái lằn ranh ấy được ông vạch rất sắc: nếu chỉ chạy theo lượt xem và cơ chế đề xuất, tòa soạn sẽ mất một lúc bốn thứ, mất dữ liệu độc giả, mất quyền phân phối, mất bản sắc và phải gánh rủi ro mỗi khi thuật toán bên ngoài đổi chiều. Đó là một chuỗi nhân quả nghiệt ngã mà không ít cơ quan báo chí trên thế giới đã nếm trải. Và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra lối đi: "Làm chủ không gian số nghĩa là biết khai thác các nền tảng toàn cầu, đồng thời xây dựng kênh riêng, cộng đồng độc giả riêng, dữ liệu riêng và thương hiệu tin cậy riêng." Một mệnh đề ngắn mà chứa cả một chiến lược, vừa mở ra bên ngoài vừa giữ chắc bên trong.
Định hướng ấy của người đứng đầu Đảng và Nhà nước không phải là một phát hiện ngẫu nhiên, mà chạm vào một quy luật đã được khoa học chỉ ra từ hơn một thế kỷ rưỡi trước. Trong tập bản thảo viết những năm 1857 và 1858 mà sau này gọi là Grundrisse, C. Mác đã nhìn thấy một điều mà thời ông chưa ai hình dung hết. Ông viết về việc tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nghĩa là tới một tầm phát triển nào đó, chính hiểu biết của con người, chứ không còn chỉ là cơ bắp hay máy móc đơn thuần, sẽ trở thành nguồn lực làm ra của cải. Luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, ghi trong C. Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, tập 46, phần I, về sau được nhắc tới như một dự báo thiên tài. Đặt câu nói ấy cạnh thời cuộc hôm nay, khi dữ liệu và trí tuệ nhân tạo đang định hình lại mọi ngành nghề, ta thấy nó vẫn nguyên tính thời sự.
Hai mệnh đề gặp nhau ở một điểm cốt lõi. Một bên là luận điểm kinh điển của Mác về tri thức hóa thành sức sản xuất, một bên là chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về dữ liệu hóa thành trụ cột của báo chí. Cả hai cùng nói một chân lý: ai làm chủ tri thức và dữ liệu của chính mình, người ấy làm chủ tương lai. Đó cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài viết này.
Có người nghĩ chuyển đổi số chỉ là chuyện sắm thêm máy móc, theo cho kịp thiên hạ. Nghĩ vậy là chưa thấu. Khi tri thức và khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì việc một tòa soạn làm chủ công nghệ và dữ liệu không còn là chuyện trang bị thêm cho oai, mà là điều kiện để tồn tại và phát triển đúng qua quy luật của thời đại. Đứng ngoài dòng chảy ấy không phải là giữ mình an toàn, mà là tự đặt mình ra rìa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn căn dặn phải biết học cái hay của nhau, học cái tiến bộ của nhân loại rồi vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh nước mình. Tinh thần ấy soi đường cho cách ta tiếp cận công nghệ hôm nay: không nhắm mắt chạy theo, cũng không quay lưng sợ hãi, mà tỉnh táo học cái hay của người đi trước để đi con đường của riêng mình. Làm chủ công nghệ, vì thế, không phải để theo kịp cho bằng người, mà cốt là để dẫn dắt. Dẫn dắt, đó mới là tầm vóc mà báo chí cách mạng cần đặt ra cho mình.
Vậy làm chủ công nghệ và dữ liệu trong thực tế trông ra sao, vận hành thế nào để vừa hiệu quả vừa không đánh mất mình? Câu trả lời không nằm ở lý thuyết suông, mà nằm trong thực tiễn của những tòa soạn lớn nhất thế giới, nơi cơn lốc trí tuệ nhân tạo quét mạnh hơn ở ta nhiều lần, vậy mà họ không những trụ được mà còn lớn lên. Tổng kết kinh nghiệm của họ, tôi thấy nổi lên ba điều đáng học.
Hãy bắt đầu từ Bloomberg, cái tên mà bất cứ ai làm tài chính đều biết. Hãng này nuôi 2.700 nhà báo và nhà phân tích, một bộ máy tin tức khổng lồ. Nhưng tiền nuôi bộ máy ấy không đến chủ yếu từ bán báo. Nó đến từ hơn 325.000 thuê bao của một thiết bị đặc biệt gọi là Terminal, mỗi máy giá khoảng 32.000 USD một năm. Cứ thế mà nhân lên, doanh thu Bloomberg năm 2024 ước đạt 13,3 tỷ USD. Mỗi ngày hãng tung ra chừng 5.000 tin, hơn một phần ba có bàn tay của tự động hóa. Bloomberg không bán tin lẻ, họ bán quyền truy cập vào một dòng dữ liệu sống mà giới đầu tư không thể thiếu, và tin tức là thứ làm cho dòng dữ liệu ấy có hồn.
Reuters đi một nước cờ khác mà cũng dựa trên cùng một chân lý. Hãng ký với LSEG một hợp đồng cung cấp tin và dữ liệu trị giá 325 triệu USD mỗi năm, kéo dài tới tận năm 2048. Hãy hình dung một dòng tiền chắc chắn chảy về suốt hơn hai thập niên, đủ để cả một tòa soạn yên tâm làm nghề mà không phải nơm nớp theo từng cú thuật toán đổi chiều. Bản thân doanh thu hãng năm gần nhất đạt khoảng 0,85 tỷ USD, nhưng cái đáng giá hơn con số ấy là sự bền vững mà hợp đồng dữ liệu dài hạn mang lại.
Sang đến Financial Times, tôi gặp một tỷ lệ khiến mình phải dừng lại suy nghĩ. Hơn 75% độc giả trả tiền của tờ báo này là khách hàng tổ chức, không phải người đọc lẻ. Gói FT Professional phục vụ 8.000 tổ chức với hơn 1,3 triệu ghế người dùng. Đây không còn là bán báo cho từng người, mà là bán hạ tầng thông tin cho cả doanh nghiệp, ngân hàng, quỹ đầu tư. Tổng số thuê bao của Financial Times vào khoảng 1,48 triệu, khiêm tốn so với các báo phổ thông, nhưng giá trị mỗi thuê bao thì cao vượt trội.
Gần ta hơn về địa lý và về mô hình là Nikkei, tờ báo kinh tế quốc gia của Nhật Bản. Bản điện tử của Nikkei đạt 1,01 triệu thuê bao trả phí tính đến tháng 12 năm 2024, cả tập đoàn có tới 3,7 triệu thuê bao số. Nhưng điều làm tôi tâm đắc nhất ở Nikkei là dịch vụ dữ liệu NEEDS, một kho dữ liệu kinh tế phủ hơn 95% các định chế tài chính Nhật. Một tờ báo ngành đã tự biến mình thành bộ nhớ dữ liệu của cả nền kinh tế, và chính cái bộ nhớ ấy nuôi ngược lại tòa soạn.
Cùng nhịp ấy là Dow Jones, chủ của Wall Street Journal, đạt doanh thu kỷ lục 2,33 tỷ USD trong năm tài chính 2025. Và ngay cả New York Times, tờ báo vẫn được xem là biểu tượng của báo chí nội dung, cũng đi đúng con đường ấy: 12,78 triệu thuê bao tính đến quý 4 năm 2025, doanh thu 2,8 tỷ USD, trong đó hơn 51% chọn gói tích hợp gồm tin cùng các sản phẩm trò chơi, nấu ăn, tư vấn mua sắm và thể thao. Họ không bán mỗi tin, họ bán một mối quan hệ thường ngày với bạn đọc.
Nhìn lại cả nhóm này, tôi rút ra một điều giản dị mà cốt tử. Không một hãng nào sống bằng việc chạy theo lượng truy cập vay mượn từ nền tảng. Tất cả đều dựng cho mình một thứ tài sản riêng, kiểm chứng được, đứng tên mình: kho dữ liệu chuyên ngành. Đó chính là cái mà Tổng Bí thư gọi là trụ cột, và là cái mà trợ lý ảo của bất kỳ nền tảng nào cũng không thể sao chép, vì nó được làm ra bằng công sức và uy tín của chính tòa soạn.
Cũng chính những hãng tin ấy đang đứng trước cùng một thử thách với tất cả chúng ta: trí tuệ nhân tạo làm được quá nhiều việc, nhanh và rẻ, đến mức rất dễ buông tay phó mặc cho máy. Cách họ ứng xử với thử thách này, theo tôi, mới là bài học đắt giá nhất.
Một khảo sát 280 lãnh đạo báo chí ở 51 nước trong năm 2026 cho thấy bức tranh đã thay đổi tận gốc. Có tới 97% coi việc tự động hóa các khâu hậu kỳ là quan trọng, 82% đã dùng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ thu thập tin, 81% dùng nó để lập trình sản phẩm. Máy đã vào tòa soạn, không còn là chuyện bàn nên hay không. Nhưng cũng chính khảo sát ấy hé lộ một sự tỉnh táo đáng quý: 67% lãnh đạo nói họ chưa cắt bất kỳ việc làm nào vì trí tuệ nhân tạo. Họ phấn khởi, nhưng họ không mê muội.
Sự tỉnh táo ấy hiện ra rõ nhất ở những lằn ranh đỏ mà các tòa soạn lớn tự vạch ra. New York Times đào tạo khoảng 1.700 trên tổng số 2.000 người của tòa soạn cách dùng bộ công cụ trí tuệ nhân tạo. Nhưng đi kèm là những điều cấm được công bố công khai: máy không được viết bài thay người, không được đụng vào tin từ nguồn mật, và nhà báo phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Họ trang bị vũ khí cho phóng viên, nhưng không trao quyền quyết định cho vũ khí. Reuters thì dựng các công cụ nội bộ như Fact Genie quét tài liệu, LEON rút tít, AVISTA xử lý ảnh và video, nhưng luôn theo một quy trình thận trọng: thử ở quy mô nhỏ, thấy chắc rồi mới nhân rộng.
Vì sao họ phải kỷ luật đến thế? Vì cái giá của sự buông tay đã có người trả thay rồi. Một chương trình phát thanh do trí tuệ nhân tạo tạo ra của tờ Washington Post từng bịa cả trích dẫn lẫn sự kiện, một vết nhơ với tờ báo lừng danh về kiểm chứng. Còn Business Insider, vì trót đặt cược quá nặng vào lượng truy cập đến từ tìm kiếm tích hợp trí tuệ nhân tạo, đã phải cắt 21% nhân sự trong năm 2025 khi dòng truy cập ấy cạn đi. Hai câu chuyện ấy là lời cảnh tỉnh sắc lạnh: máy đặt đúng chỗ là trợ lực, đặt sai chỗ là tai họa.
Đến đây thì cái vế thứ hai mà tôi nói ở đầu bài đã hiện rõ. Dữ liệu là trụ cột như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra, nhưng trụ cột chống đỡ cho cái gì cho con người và nội dung? Tôi nhớ lời đồng chí Trịnh Văn Quyết tại Hội Báo toàn quốc 2026: "Trí tuệ nhân tạo có thể viết được câu chữ, nhưng không thể viết thay bản lĩnh chính trị, lương tri và trái tim của người làm báo cách mạng." Lấy nội dung làm cốt lõi, coi công nghệ là công cụ, hóa ra cũng chính là điều mà những tòa soạn giỏi nhất thế giới đang lặng lẽ thực hành mỗi ngày.
Tiếng nói từ thực tiễn báo chí trong nước cũng đi đúng mạch ấy. Tại hội thảo trong khuôn khổ Hội Báo toàn quốc 2026 ở Hải Phòng, ngày 19 tháng 6 năm 2026, Tổng Biên tập Báo Nhân dân - Lê Quốc Minh dẫn số liệu Khảo sát Báo chí Việt Nam cho thấy, hơn 80% cơ quan báo chí trong nước đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quy trình, nhưng khoảng 70% mới chỉ có hướng dẫn nội bộ chứ chưa có văn bản chính thức, và khoảng 40% chưa áp dụng bất kỳ bộ nguyên tắc đạo đức nào về sử dụng trí tuệ nhân tạo. Từ thực trạng ấy, ông đề xuất quy tắc 70/30, tức dùng trí tuệ nhân tạo tự động hóa khoảng 70% tác vụ lặp lại như gỡ băng phỏng vấn, dịch tư liệu, tóm tắt văn bản, viết tin số liệu, để dành 30% nguồn lực cho báo chí chất lượng cao là điều tra, phóng sự, chính luận.
Ông nhấn mạnh nguyên tắc giữ con người duyệt cuối theo mô hình "human in the loop": trí tuệ nhân tạo chỉ gợi ý, biên tập viên mới là người quyết định. Ông cũng đề xuất phát triển mô hình ngôn ngữ lớn nội địa, huấn luyện trên kho dữ liệu báo chí, văn hóa, lịch sử Việt Nam đã kiểm chứng, để tránh sai lệch ngữ cảnh và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Kinh nghiệm quốc tế mà ông dẫn ra cũng nói lên điều đó: báo Tagesspiegel của Đức dùng trợ lý ảo đối chiếu đề tài với chân dung độc giả trước khi giao bài, còn tập đoàn Bonnier News ở Bắc Âu đào tạo hơn 2.000 phóng viên, biến người hoài nghi thành người ủng hộ trí tuệ nhân tạo. Một câu trên trang trình chiếu của ông cô đọng tất cả, và cộng hưởng đúng với luận đề con người là cốt lõi của bài viết này: "AI là động cơ, nhưng con người phải là người lái."
Có một sự dịch chuyển âm thầm mà nếu không nhìn vào con số sẽ khó tin. Suốt nhiều thập niên, báo chí sống chủ yếu nhờ quảng cáo. Nhưng cán cân ấy đang thay đổi.
Một khảo sát 66 công ty tin tức do Hiệp hội Truyền thông tin tức quốc tế INMA thực hiện cho thấy doanh thu từ chính bạn đọc nay đã chiếm 46% tổng thu, vượt qua quảng cáo. Tại Anh, trong quý I năm 2025, tiền thu từ thuê bao đã chiếm 34% doanh thu của báo chí chất lượng cao, vượt mức 31% của quảng cáo hiển thị. Con số ấy nói lên một sự thật giản dị: người trả tiền cho báo chí trở lại là chính bạn đọc, chứ không phải nhà quảng cáo hay nền tảng trung gian.
Sự dịch chuyển này có ý nghĩa sâu xa. Khi nguồn sống của tòa soạn đến trực tiếp từ bạn đọc, thì lòng tin của bạn đọc trở thành tài sản quý nhất, và uy tín nội dung trở thành thứ phải giữ bằng mọi giá. Đây cũng là lời nhắc rằng con đường bền vững không phải là phụ thuộc vào những nguồn thu bên ngoài có thể đổi chiều bất cứ lúc nào, mà là gây dựng mối quan hệ trực tiếp, sòng phẳng với người đọc, dựa trên một thứ duy nhất họ sẵn lòng trả tiền: nội dung tin cậy.
Soi những kinh nghiệm ấy vào chủ trương của ta, tôi thấy một sự gặp gỡ đáng mừng. Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt nền móng tư tưởng cho cả một thời kỳ. Tinh thần xuyên suốt của nó là làm chủ công nghệ để tự chủ và phát triển, biến khoa học công nghệ thành động lực chính. Báo chí cách mạng, với tư cách một lực lượng trên mặt trận tư tưởng, càng phải đi đầu trong việc quán triệt tinh thần ấy.
Làm chủ công nghệ ở đây không phải là góp nhặt vài công cụ cho có. Đó là chủ động xây dựng dữ liệu của riêng mình như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo, là xây dựng kênh riêng, cộng đồng độc giả riêng và thương hiệu tin cậy riêng đúng theo định hướng của Người, là đặt trí tuệ nhân tạo vào tòa soạn một cách có kỷ luật như kinh nghiệm thế giới đã chứng minh, thay vì sống nhờ lưu lượng vay mượn. Và cao hơn cả là dẫn dắt, làm chủ công nghệ không chỉ để theo kịp mà để dẫn dắt định hướng dư luận, dẫn dắt dòng thông tin chính thống, giữ vững trận địa tư tưởng trong một môi trường số đầy nhiễu loạn.
Tổng kết lại, tôi muốn quay lạị với điều cốt lõi mà đồng chí Tô Lâm đã chỉ ra. Dữ liệu là trụ cột, đúng vậy, và phải xây dựng cho được trụ cột ấy, không lệ thuộc vào thuật toán của ai khác. Nhưng trụ cột bao giờ cũng là để chống đỡ cho một mái nhà, và mái nhà của báo chí cách mạng là con người cùng nội dung. Trí tuệ nhân tạo dù mạnh đến đâu vẫn chỉ viết được câu chữ, nó không thể viết thay bản lĩnh chính trị, lương tri và trái tim của người làm báo. Khoa học và dữ liệu đã hóa thành lực lượng sản xuất của thời đại, nhưng người cầm lấy lực lượng ấy, định hướng nó phục vụ Tổ quốc và nhân dân, vẫn phải là con người.
Cùng đồng hành trong dòng chảy ấy, Báo Công Thương đang đứng trước cơ hội ấy với một lợi thế không nhỏ. Mỗi ngày, tòa soạn này chạm vào những dòng dữ liệu mà cả nền kinh tế cần: giá xăng dầu, giá điện, giá vàng, giá thép, giá nông sản, tỷ giá, số liệu xuất nhập khẩu, diễn biến các vụ phòng vệ thương mại. Đây là lợi thế mà không một tờ báo phổ thông nào sao chép được, bởi nó gắn với vị thế đặc thù của một cơ quan báo chí ngành Công Thương. Có điều, có mỏ quặng quý dưới chân chưa có nghĩa là đã thành người giàu. Quặng cần người biết đào, biết luyện, biết giữ. Báo Công Thương sẽ đi con đường ấy như thế nào, dựng trụ cột dữ liệu của mình ra sao, đặt cái máy vào tòa soạn theo lối nào để vừa giải phóng sức người vừa giữ trọn bản lĩnh và trái tim người làm báo cách mạng, đó là câu chuyện tôi xin được kể tiếp dưới đây.
Cỗ máy viết được câu chữ, nhưng lập trường, lương tri và lòng trung thành với nhân dân thì chỉ con người làm báo cách mạng mới giữ được.
Khép lại bài viết này, tôi muốn bắt đầu không phải bằng một con số, mà bằng một lời chỉ đường. Đi qua cơn lốc trí tuệ nhân tạo của kỳ đầu, qua bài học làm chủ dữ liệu của những hãng tin lớn nhất hành tinh ở kỳ hai, đến kỳ kết này, câu hỏi Báo Công Thương đi con đường nào trong thời đại số cần được đặt trước hết dưới ánh sáng định hướng của người đứng đầu Đảng ta.
Trong bài viết "Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề chủ quyền thông tin quốc gia ở tầm chiến lược. Đồng chí Tô Lâm viết:
Năm câu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã mở ra cả một tầm nhìn. Trước hết là một mệnh đề có sức nặng của nguyên tắc: chủ quyền thông tin quốc gia là thứ phải được nhận thức đầy đủ hơn, và báo chí cách mạng không đứng ngoài mà phải là lực lượng chủ lực giữ lấy chủ quyền ấy. Trong một thời đại mà dòng tin tức chảy xuyên biên giới, thuật toán của các nền tảng nước ngoài định đoạt cái gì được thấy và cái gì bị chìm, đặt lại vấn đề chủ quyền thông tin là đặt lại câu hỏi gốc về sự độc lập của một dân tộc trên không gian số.
Nhưng điều khiến tôi tâm đắc hơn cả là cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bác bỏ ngay một ngộ nhận dễ mắc. Bảo vệ chủ quyền thông tin không có nghĩa là khép kín. Người không kêu gọi dựng tường, dựng rào, mà ngược lại đòi hỏi một nền báo chí đối ngoại số mạnh, đa ngôn ngữ, đa phương tiện, đủ sức chuyển tải thông điệp của Việt Nam ra thế giới bằng ngôn ngữ hiện đại và bản sắc Việt Nam. Giữ chủ quyền, theo cách hiểu ấy, không phải là co lại để phòng thủ, mà là chủ động bước ra, mạnh dạn kể câu chuyện của mình. Thành tựu đổi mới, văn hóa dân tộc, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, tất cả phải đến với thế giới bằng sản phẩm hấp dẫn và dữ liệu thuyết phục, chứ không bằng lời hô khẩu hiệu. Hai chữ "dữ liệu thuyết phục" ở câu cuối, với một tờ báo kinh tế ngành đang nắm trong tay kho số liệu đầu nguồn, là lời gọi tên đúng việc mình phải làm. Cả tuyến bài này, suy cho cùng, là một cách trả lời cho lời chỉ đường ấy.
Định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không tự nhiên mà có, nó cắm rễ trong nguyên lý nền tảng của báo chí cách mạng, thứ mà mọi công nghệ rồi sẽ cũ cũng không làm lung lay được. Ngay từ buổi đầu của báo chí vô sản, V.I. Lênin đã đặt nền cho một nguyên lý đến nay vẫn nguyên giá trị. Trong tác phẩm "Tổ chức của đảng và văn học đảng" viết năm 1905, Người chỉ rõ sự nghiệp văn học, báo chí phải là một bộ phận trong sự nghiệp chung của toàn Đảng, gắn bó máu thịt với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Báo chí không đứng bên lề, không trung lập giả tạo, mà công khai mang tính đảng. Đó là tính đảng, ngọn đèn soi cho người cầm bút biết mình viết vì ai, đứng về phía nào.
Đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên lý ấy được Người diễn đạt mộc mạc mà thấu suốt. Trong bài giảng "Cách viết" tại lớp chỉnh Đảng Trung ương ngày 17 tháng 8 năm 1953, Người dạy người làm báo trước khi đặt bút phải tự trả lời bốn câu hỏi: "Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết thế nào?". Bốn câu hỏi tưởng giản đơn ấy buộc người viết luôn lấy nhân dân làm đối tượng phục vụ, lấy lợi ích cách mạng làm mục đích, và Người dặn thêm rằng người viết phải có lập trường vững vàng. Câu chữ hay đến mấy mà lập trường lung lay thì bài báo cũng vô nghĩa.
Hơn một thế kỷ kể từ lời của Lênin, hơn bảy mươi năm kể từ lời dặn của Bác, công cụ làm báo thay đổi chóng mặt, nhưng hai chữ tính đảng và tính nhân dân không hề cũ đi. Trái lại, giữa thời đại số khi ai cũng có thể phát tin và máy móc sản xuất được nội dung hàng loạt, cái gốc lập trường và đạo đức người làm báo lại càng là thứ phân biệt báo chí cách mạng với muôn vàn tạp âm.
Từ cái gốc ấy soi ra, con đường tự chủ của một tờ báo ngành hiện lên rất rõ. Tự chủ không có nghĩa là chạy theo thị trường bằng mọi giá, càng không phải buông mình theo thuật toán câu khách của các nền tảng xuyên biên giới. Tự chủ thật sự là làm chủ con đường của chính mình, mà muốn vậy phải làm chủ ba thứ: lập trường, bạn đọc và dữ liệu.
Làm chủ lập trường là giữ cho được tính đảng, để mỗi bài báo dù viết về giá thép hay giá điện cũng đều phục vụ lợi ích của đất nước, của nhân dân, chứ không phục vụ một nhóm lợi ích nào. Làm chủ bạn đọc là giữ cho được tính nhân dân, nói tiếng nói mà người dân, người lao động, cộng đồng doanh nghiệp cần nghe và tin được. Còn làm chủ dữ liệu là điều kiện sống còn của thời đại mới: tờ báo không nắm dữ liệu của riêng mình thì sớm muộn cũng lệ thuộc vào thuật toán và kho dữ liệu của kẻ khác, mà đã lệ thuộc về dữ liệu thì khó giữ trọn sự độc lập về tư tưởng. Tự chủ đặt trên nền tính đảng, tính nhân dân và làm chủ dữ liệu, đó mới là tự chủ mà không tự đánh mất mình.
Soi nguyên lý vào thực tiễn, bản đồ báo điện tử Việt Nam hôm nay có những ngọn núi rất cao. Theo số liệu công khai của các nền tảng đo lường bên thứ ba, tháng 6 năm 2024 VnExpress đạt khoảng 164,3 triệu lượt truy cập mỗi tháng, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; phía sau là Tuổi Trẻ khoảng 70,1 triệu lượt và Dân Trí khoảng 60,5 triệu lượt.
Nhưng bản đồ không chỉ có chiều cao của lượt xem. Cùng tháng đó, lượt truy cập web của Báo Công Thương ở mức khoảng 16,2 triệu lượt, tờ số một về lưu lượng công khai trong nhóm báo bộ ngành. Đáng để ý hơn là VnEconomy chỉ khoảng 2,9 triệu lượt, nhỏ hơn nhiều các tờ phổ thông, song tỷ lệ người đọc tự tìm đến từ ô tìm kiếm lên tới 43%. Con số ấy cho thấy trong báo chí chuyên ngành, thắng thua không ở chỗ ai đông hơn, mà ở chỗ ai được người đọc chủ động tìm đến vì cần.
Có một tài sản tôi luôn nhắc anh em mỗi khi ai đó chạnh lòng vì mình không đông bằng báo lớn. Kênh YouTube của Báo Công Thương hiện có hơn 1,03 triệu người đăng ký, là tài sản video lớn nhất trong phân khúc báo kinh tế. Kênh báo chí lớn nhất cả nước hiện nay là Thanh Niên, ở mức khoảng 5,5 đến 6 triệu người đăng ký. Phải một tờ phổ thông quy mô quốc gia mới vượt được, còn trong địa hạt kinh tế ngành, chúng ta đang dẫn đầu.
Nhưng kênh video mới là phần nổi. Lợi thế gốc rễ nằm ở kho dữ liệu ngành mà tờ báo có được nhờ vị trí của mình: giá xăng dầu, điện, vàng, thép, nông sản, tỷ giá, số liệu xuất nhập khẩu, diễn biến các vụ phòng vệ thương mại. Đó là những dòng dữ liệu cả nền kinh tế cần, doanh nghiệp tra cứu hằng ngày để ra quyết định, và không tờ phổ thông nào chép lại được vì họ không sống trong ngành như chúng ta. Khi cơn lốc trí tuệ nhân tạo cào đi mọi nội dung dễ sao chép, chính những dữ liệu gốc, có nguồn, kiểm chứng được lại thành tài sản hiếm. Cỗ máy tổng hợp được tin tức, nhưng không sinh ra con số đầu nguồn.
Từ chỗ đứng và tài sản ấy, định hướng của Báo Công Thương hiện ra, khác hẳn lối mòn chạy đua làm một tờ báo phổ thông cho thật đông. Bài học từ Nikkei, hãng báo kinh tế hàng đầu châu Á mà kỳ trước đã nhắc, gợi một câu đáng khắc lên tường: đừng chỉ làm tờ báo của ngành, hãy làm hạ tầng thông tin của ngành. Một tờ báo thì người ta đọc xong rồi thôi; một hạ tầng thông tin thì doanh nghiệp, hiệp hội, các tổ chức phải dựa vào để làm việc mỗi ngày, vì thiếu nó là thiếu một mắt xích.
Định hướng ấy không phải khẩu hiệu, mà dựng trên một tòa soạn hội tụ thực chất, nơi báo viết, báo hình, dữ liệu và sự kiện cùng chảy trên một dòng, với Trung tâm Chuyển đổi số và Phát triển làm đầu mối. Cách làm là đẩy đồng thời nhiều mũi: giành lại tìm kiếm trên sân nhà, để khi cần thông tin của ngành Công Thương người ta gặp đúng Báo Công Thương trước tiên; dựng hệ sản phẩm dữ liệu từ kho dữ liệu ngành; và chuyển hóa lượng người theo dõi đông đảo trên mạng xã hội thành bạn đọc trung thành. Khát vọng rất rõ: dẫn dắt phân khúc báo kinh tế ngành và vươn vào nhóm dẫn đầu báo chí cả nước vào năm 2030.
Điều đáng mừng là lúc này cả khung pháp lý lẫn chủ trương lớn đều đang mở đường cho định hướng ấy. Luật Báo chí năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026, mở mô hình cơ quan báo chí đa loại hình, đa dịch vụ, thừa nhận một tờ báo có thể vừa làm tin, vừa cung cấp dịch vụ dữ liệu, vừa tổ chức sự kiện ngay trên báo điện tử trong một chỉnh thể. Cộng hưởng với nó là Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đặt nền cho việc dùng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong làm báo. Cái khung con đường của Báo Công Thương cần để chạy, nay đã có.
Nhưng thể chế chỉ mở đường, đi hay không là ở con người và ở ý chí. Cái khung pháp lý ấy gặp đúng định hướng chiến lược mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra: một nền báo chí làm chủ dữ liệu của riêng mình, giữ vững chủ quyền thông tin quốc gia, đồng thời đủ sức vươn ra thế giới bằng sản phẩm hấp dẫn và dữ liệu thuyết phục. Khung đã mở, đường đã rõ, việc còn lại là người làm báo Công Thương có dám đi tới cùng hay không?
Định hướng từ tầm chiến lược ấy gặp tiếng nói thực tiễn ngay trong giới nghề. Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Lê Quốc Minh đề xuất một mô hình tòa soạn rất hợp với một tờ báo của Đảng, kiến trúc hai tốc độ. Một lõi trung tâm chậm và chắc dành cho nội dung chính trị, lý luận và chỉ đạo của Đảng, đi qua quy trình duyệt nhiều cấp với chuẩn mực tuyệt đối; một vành đai ngoài nhanh và nhạy dành cho đời sống, kinh tế, đa phương tiện và mạng xã hội, làm vùng thử nghiệm đổi mới. Ông cũng chỉ ra bốn lợi thế độc bản của báo chí Việt Nam: một thị trường số lớn với 72,1 triệu người dùng Internet, chiếm 73,2% dân số; một thành trì niềm tin thể chế cộng với năng lực sáng tạo bản địa, am hiểu ngôn ngữ và tâm lý xã hội Việt Nam, là vùng mà trí tuệ nhân tạo khó thay thế; cam kết chuyển đổi số quốc gia; và năng lực đi tắt đón đầu khi các mô hình đúng sai trên thế giới đã lộ rõ. Đáng nhớ nhất là cách ông đặt lại thước đo. Ông cho rằng mọi công nghệ và quy trình sẽ vô nghĩa nếu vẫn đo giá trị bằng số lượng bài viết, và "Chuyển đổi số thực sự bắt đầu từ việc thay đổi thước đo giá trị", tức chuyển từ chạy theo lượt xem sang chất lượng tương tác và sự gắn bó của bạn đọc. Mô hình hai tốc độ và bốn lợi thế ấy chính là lời củng cố cho con đường làm hạ tầng thông tin của ngành mà Báo Công Thương đã chọn.
Đồng chí Trịnh Văn Quyết tại Hội Báo toàn quốc 2026 từng nói một câu thật hay: "Mỗi trang báo là một viên gạch dựng xây niềm tin xã hội." Và phương châm chung mà cả giới báo chí cách mạng cùng nhắc nhau, bút sắc, lòng trong, tâm sáng, là lời tự răn cho mỗi người cầm bút giữ mình giữa thời đại số.
Đi hết tuyến bài ba kỳ, từ cơn lốc trí tuệ nhân tạo, qua bài học dữ liệu của thế giới, đến con đường của chính mình, tôi nhận ra mọi ngả đều dẫn về một mệnh đề giản dị: công nghệ chỉ là con đường, đích đến sau cùng vẫn là con người. Là người đọc cần một địa chỉ để tin giữa biển thông tin nhiễu loạn. Là người làm báo dám đứng tên cho sự thật, với cái gốc tính đảng và tính nhân dân mà cỗ máy không viết thay được.
Trở lại với lời Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy tại Đại hội lần thứ ba Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8 tháng 9 năm 1962: "Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng". Công cụ đổi thay qua mỗi thời, nhưng nhiệm vụ gốc ấy không đổi. Điều này cũng đúng với tinh thần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu, một tờ báo càng làm chủ dữ liệu của riêng mình thì càng giữ vững chủ quyền thông tin, càng phục vụ nhân dân được nhiều hơn.
Bước vào năm thứ một trăm lẻ một của nền báo chí cách mạng, người làm báo Công Thương chọn cho mình một niềm tin chắc chắn: mỗi dòng dữ liệu trung thực chúng ta làm ra, mỗi con số có nguồn chúng ta dám đứng tên, đều là một viên gạch lặng lẽ dựng nên niềm tin của xã hội. Giữ trọn tính đảng và tính nhân dân, làm chủ kho dữ liệu của ngành, đem những viên gạch ấy góp vào ngôi nhà chung của đất nước trên đường tới hai mốc lịch sử, 100 năm thành lập Đảng năm 2030 và 100 năm thành lập nước năm 2045, đó chính là cách một tờ báo cách mạng tiếp tục dẫn dắt, ngay trong thời đại số.