Phát triển kinh tế không thể tách rời việc xây dựng hệ giá trị quốc gia
Trong tiến trình phát triển của thế kỷ XXI, những quốc gia có thể tự khẳng định vị thế không chỉ dựa vào quy mô kinh tế mà còn ở năng lực tự chủ chiến lược. Đây không phải là khái niệm mang tính lý thuyết, mà là yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh thế giới đang chuyển động nhanh, phức tạp và khó dự báo.
Tự chủ chiến lược, xét về bản chất, là khả năng cân bằng vị thế quốc gia trên nền tảng thực lực, biết nắm bắt thời cơ, hóa giải nguy cơ, không bị lệ thuộc, không rơi vào bị động hay chệch hướng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các xu thế như cạnh tranh giữa các cường quốc, chuyển dịch chuỗi cung ứng, phát triển trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và các biến động địa chính trị đang diễn ra mạnh mẽ.
Đặt trong bối cảnh ấy, yêu cầu về tự chủ chiến lược ngày càng rõ ràng hơn đối với mỗi quốc gia. Với Việt Nam, sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, nhất là trong tầm nhìn đến năm 2045, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng mà còn là phát triển bền vững, toàn diện, có bản sắc và có năng lực tự chủ.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế quốc gia phải đối diện với nhiều thách thức đan xen. Đó là sự chênh lệch giữa khát vọng phát triển và tốc độ hiện tại; giữa yêu cầu quản trị hiện đại với thực tiễn bộ máy đang chuyển đổi; giữa tăng trưởng và phát triển bền vững; giữa hội nhập kinh tế và giữ vững độc lập, tự chủ.
Những mâu thuẫn này đòi hỏi cách tiếp cận chiến lược, không thể xử lý bằng các giải pháp ngắn hạn. Bởi vậy, vấn đề không chỉ là nhìn nhận đúng những thách thức đang đặt ra, mà còn là xác định rõ nền tảng giá trị để tổ chức phát triển trong dài hạn.
Từ góc nhìn tổng thể, phát triển kinh tế không thể tách rời việc xây dựng hệ giá trị quốc gia. Hệ giá trị đó bao gồm các yếu tố cốt lõi như: độc lập, tự cường, dân chủ, công bằng, văn minh, liêm chính, trách nhiệm và thượng tôn pháp luật. Đây không chỉ là những chuẩn mực chính trị, xã hội mà còn là cơ sở tinh thần để dẫn dắt quá trình phát triển kinh tế theo hướng bền vững và có bản sắc.
Đồng thời, con người phải được đặt ở vị trí trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là động lực và mục tiêu của phát triển. Khi con người được đặt ở trung tâm, phát triển không còn chỉ được hiểu bằng những con số tăng trưởng, mà còn được đo bằng chất lượng sống, bằng khả năng phát huy năng lực sáng tạo và bằng mức độ thụ hưởng thành quả phát triển của người dân.
Trên nền tảng đó, kinh tế không chỉ là yếu tố vật chất mà còn là nền tảng chính trị và văn hóa của quốc gia. Một nền kinh tế mạnh không chỉ tạo ra của cải mà còn góp phần định hình trật tự xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố niềm tin của người dân. Nói cách khác, sức mạnh kinh tế không thể tách rời chất lượng phát triển xã hội và chiều sâu văn hóa của quốc gia.
Đó cũng là lý do yêu cầu tự chủ chiến lược không thể chỉ nhìn trong phạm vi của sản xuất, thương mại hay đầu tư, mà phải được nhìn như một yêu cầu xuyên suốt đối với toàn bộ quá trình phát triển. Khi nền kinh tế đứng trước những biến động lớn của thế giới, vấn đề cốt lõi không chỉ là phản ứng nhanh trước các cú sốc, mà còn là khả năng giữ vững định hướng, bảo đảm ổn định và mở ra dư địa phát triển mới.
Tiến sĩ, Nhà báo Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
Đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng nền kinh tế tự chủ
Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, từ số lượng sang chất lượng. Đây là yêu cầu có tính căn bản, bởi nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô, khai thác nguồn lực theo chiều rộng, nền kinh tế sẽ khó tạo được nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.
Tăng trưởng cao là cần thiết, nhưng không thể là mục tiêu duy nhất, càng không thể đạt bằng mọi giá. Điều này cho thấy, vấn đề không chỉ là tốc độ tăng trưởng, mà còn là chất lượng của tăng trưởng, là hiệu quả sử dụng nguồn lực, là sức chống chịu của nền kinh tế và là khả năng bảo đảm các mục tiêu phát triển dài hạn.
Một nền kinh tế tự chủ đòi hỏi phải bảo đảm các cân bằng chiến lược. Đó là cân bằng giữa nội lực và ngoại lực, giữa xuất khẩu và nhập khẩu, giữa công nghệ lõi và công nghệ phụ trợ, giữa tiêu dùng và dự trữ chiến lược. Mỗi cân bằng đều có ý nghĩa riêng, nhưng điểm chung là cùng hướng tới mục tiêu tạo nền tảng ổn định, chủ động và bền vững cho nền kinh tế.
Cân bằng giữa nội lực và ngoại lực cho thấy nội lực luôn phải giữ vai trò nền tảng. Ngoại lực là quan trọng, nhưng không thể thay thế nội lực. Nếu chỉ dựa vào nguồn lực bên ngoài mà không củng cố được nền tảng bên trong, nền kinh tế rất dễ rơi vào bị động khi môi trường quốc tế thay đổi.
Cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu đặt ra yêu cầu phát triển thương mại theo hướng hiệu quả, bền vững, tránh lệ thuộc và giảm thiểu những rủi ro trong chuỗi cung ứng. Đây là vấn đề ngày càng rõ hơn khi các biến động toàn cầu có thể tác động trực tiếp đến lưu thông hàng hóa, chi phí sản xuất và thị trường tiêu thụ.
Cân bằng giữa công nghệ lõi và công nghệ phụ trợ nhấn mạnh rằng năng lực tự chủ không chỉ nằm ở việc tiếp cận công nghệ mà còn ở khả năng làm chủ, phát triển và ứng dụng công nghệ. Nếu chỉ dừng ở mức tiếp nhận, nền kinh tế khó có thể tạo được lợi thế cạnh tranh bền vững.
Cân bằng giữa tiêu dùng và dự trữ chiến lược lại gắn với khả năng ứng phó trước rủi ro. Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững không thể chỉ quan tâm tới tăng trưởng trước mắt mà phải tính đến các phương án dự phòng, đến sức chống chịu trong những thời điểm khó khăn.
Đồng thời, cần bảo đảm an ninh kinh tế trên các phương diện như năng lượng, lương thực, công nghệ và môi trường. Đây là những trụ cột quan trọng của nền kinh tế tự chủ. Nếu thiếu an ninh năng lượng, sản xuất sẽ bị ảnh hưởng; nếu không bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội sẽ bị tác động; nếu công nghệ phụ thuộc, năng lực cạnh tranh sẽ bị hạn chế; nếu môi trường bị tổn hại, tăng trưởng khó có thể bền vững.
Trong đó, cải cách thể chế là yếu tố then chốt. Nhà nước cần chuyển từ vai trò quản lý sang kiến tạo, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng, bởi một nền kinh tế hiện đại không thể phát triển tốt nếu bộ máy quản lý vẫn nặng về can thiệp hành chính mà chưa chuyển mạnh sang tạo lập môi trường thuận lợi cho sáng tạo và phát triển.
Bộ máy phải tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình. Khi bộ máy được tổ chức hợp lý, các quyết sách sẽ đi vào cuộc sống nhanh hơn, chi phí tuân thủ có thể giảm xuống, nguồn lực xã hội được giải phóng tốt hơn và hiệu quả phát triển được nâng lên rõ hơn.
Cùng với đó, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đây không chỉ là một lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay. Khi các dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng và khả năng bứt phá.
Việc làm chủ công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, sẽ quyết định khả năng cạnh tranh và mức độ tự chủ của nền kinh tế. Làm chủ công nghệ không chỉ là sở hữu dây chuyền hay thiết bị, mà còn là làm chủ tri thức, quy trình, năng lực đổi mới và khả năng phát triển những giải pháp phù hợp với điều kiện của mình.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là điều kiện tiên quyết. Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững cần có đội ngũ nhân lực có trình độ, có tư duy hiện đại, có đạo đức và trách nhiệm xã hội. Nguồn nhân lực ấy vừa là chủ thể tiếp nhận công nghệ mới, vừa là lực lượng trực tiếp tạo ra đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.
Trong phương thức phát triển, cần ưu tiên các hướng như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; phát triển vùng và liên kết vùng; xây dựng cộng đồng doanh nghiệp dân tộc mạnh. Đây là những hướng đi cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ nằm ở từng ngành, từng lĩnh vực riêng lẻ mà còn cần được triển khai đồng bộ trong toàn bộ cấu trúc phát triển.
Kinh tế số mở ra không gian tăng trưởng mới, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn giúp giảm sức ép lên tài nguyên, môi trường, còn phát triển vùng và liên kết vùng tạo điều kiện khai thác tốt hơn các lợi thế so sánh. Cùng với đó, xây dựng cộng đồng doanh nghiệp dân tộc mạnh là yêu cầu quan trọng để hình thành lực lượng kinh tế có năng lực cạnh tranh và có khả năng gắn bó lâu dài với lợi ích quốc gia.
Khu vực kinh tế tư nhân cần được tạo điều kiện phát triển, nhưng trên nền tảng cạnh tranh bình đẳng và tuân thủ pháp luật. Đây là một nguyên tắc cần được bảo đảm nhất quán, bởi sự phát triển của khu vực tư nhân chỉ thực sự bền vững khi được đặt trong một môi trường minh bạch, công bằng và có kỷ cương pháp lý rõ ràng.
Song song với đó, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân là những yếu tố không thể thiếu để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Một nền kinh tế dù tăng trưởng nhanh nhưng thiếu ổn định vĩ mô, lạm phát cao hay an sinh xã hội không được bảo đảm thì cũng khó có thể duy trì được đà phát triển trong dài hạn.
Nhìn tổng thể, đổi mới mô hình tăng trưởng không đơn thuần là thay đổi một vài chỉ tiêu hay một số phương thức điều hành, mà là sự điều chỉnh có tính chiến lược trong cách tổ chức phát triển. Đó là quá trình chuyển nền kinh tế sang trạng thái phát triển dựa nhiều hơn vào chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sức mạnh nội sinh.
Công Thương giữ vai trò mũi nhọn trong phát triển
Trong tổng thể nền kinh tế, lĩnh vực Công Thương giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là khu vực gắn trực tiếp với sản xuất, thị trường, xuất nhập khẩu và chuỗi cung ứng. Vì gắn với nhiều mắt xích của nền kinh tế, công thương không chỉ phản ánh sức sản xuất mà còn phản ánh năng lực lưu thông hàng hóa, khả năng kết nối thị trường và mức độ tham gia vào mạng lưới kinh tế khu vực, toàn cầu.
Sự phát triển của Công Thương có tác động lan tỏa mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế. Khi sản xuất công nghiệp được nâng cao, thương mại phát triển ổn định, chuỗi cung ứng thông suốt, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác cũng có điều kiện phát triển theo. Ngược lại, nếu lĩnh vực Công Thương gặp khó khăn, tác động sẽ không chỉ dừng lại ở một ngành mà có thể lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế.
Phát triển Công Thương trong giai đoạn mới phải gắn với đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, phát triển công nghiệp cốt lõi và làm chủ các công nghệ hiện đại. Đây là những yêu cầu có tính nền tảng, bởi nếu công nghiệp không nâng được chất lượng sản xuất, không tiến vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn, nền kinh tế sẽ khó nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đồng thời, cần thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển năng lượng sạch và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Những yếu tố này không tách rời nhau mà bổ trợ cho nhau trong quá trình phát triển. Chuyển đổi số giúp tối ưu hóa quản trị và tổ chức sản xuất, năng lượng sạch gắn với phát triển bền vững, còn hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tạo điều kiện để những ý tưởng mới được hình thành, thử nghiệm và lan tỏa.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia đạt tăng trưởng cao đều dựa trên nền tảng công nghiệp hóa, đổi mới công nghệ và phát triển doanh nghiệp nội địa. Đây là một thực tế có ý nghĩa tham khảo quan trọng, bởi nó cho thấy tăng trưởng bền vững luôn gắn chặt với năng lực sản xuất trong nước, với trình độ công nghệ và với sự lớn mạnh của lực lượng doanh nghiệp bản địa.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia có điều kiện riêng, do đó việc vận dụng cần phù hợp với thực tiễn. Bài học quốc tế chỉ có giá trị khi được tiếp nhận trên cơ sở điều kiện cụ thể của từng nền kinh tế, từng giai đoạn phát triển và từng mục tiêu chiến lược đặt ra.
Bên cạnh cơ hội, nền kinh tế cũng đối mặt với nhiều nguy cơ như tụt hậu công nghệ, chảy máu chất xám, già hóa dân số, lãng phí cơ hội dân số vàng, phát triển thiếu bền vững hoặc bị lệ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Đây đều là những nguy cơ không thể xem nhẹ, bởi chúng liên quan trực tiếp tới khả năng duy trì đà tăng trưởng và khả năng giữ vững tự chủ trong phát triển.
Nguy cơ tụt hậu công nghệ cho thấy nếu không theo kịp tốc độ đổi mới, nền kinh tế sẽ bị đẩy xuống những nấc thấp hơn trong chuỗi giá trị. Nguy cơ chảy máu chất xám lại liên quan tới việc đánh mất nguồn lực con người có chất lượng cao. Già hóa dân số và lãng phí cơ hội dân số vàng cho thấy thời gian cho phát triển không phải là vô hạn. Còn phát triển thiếu bền vững hoặc lệ thuộc vào các yếu tố bên ngoài đều có thể làm suy yếu nền tảng tự chủ của quốc gia.
Nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời, những nguy cơ này có thể làm suy giảm năng lực tự chủ của nền kinh tế. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển nhanh mà còn phải phát triển vững, không chỉ nắm bắt cơ hội mà còn phải phòng ngừa và hóa giải nguy cơ.
Do đó, phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo đảm các giá trị đạo đức xã hội. Đây không phải là những yêu cầu đi kèm bên ngoài tăng trưởng, mà là những yếu tố cấu thành chất lượng tăng trưởng. Không thể đánh đổi môi trường, văn hóa hoặc sự công bằng xã hội để lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Trong tiến trình đó, việc kết hợp giữa trí tuệ con người và công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, sẽ tạo ra động lực mới cho phát triển. Khi con người được đặt ở vị trí trung tâm và công nghệ được sử dụng đúng hướng, nền kinh tế sẽ có thêm công cụ để nâng cao năng suất, đổi mới phương thức quản trị và mở rộng không gian tăng trưởng.
Đồng thời, cần xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa pháp quyền và văn hóa doanh nghiệp nhằm tạo nền tảng cho một nền kinh tế hiện đại và bền vững. Văn hóa chính trị giúp củng cố định hướng phát triển, văn hóa pháp quyền tạo ra kỷ cương và niềm tin, còn văn hóa doanh nghiệp là nền tảng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh lâu dài, có trách nhiệm và có năng lực cạnh tranh.
Kỷ nguyên mới đang đặt ra yêu cầu về một tầm nhìn phát triển dài hạn, dựa trên tự chủ chiến lược, đổi mới sáng tạo và phát huy nội lực. Đây là yêu cầu xuyên suốt, vừa cấp bách, vừa lâu dài, vừa gắn với những mục tiêu trước mắt, vừa định hình cho hành trình phát triển trong nhiều năm tới.
Trong đó, kinh tế công thương phải đi trước, mở đường, tạo động lực cho toàn bộ nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và có bản sắc. Vai trò mũi nhọn của công thương vì thế không chỉ thể hiện ở tốc độ tăng trưởng hay quy mô đóng góp, mà còn ở năng lực dẫn dắt, kết nối và tạo sức bật cho toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế quốc gia.
Trong tổng thể nền kinh tế, lĩnh vực Công Thương giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là khu vực gắn trực tiếp với sản xuất, thị trường, xuất nhập khẩu và chuỗi cung ứng. Vì gắn với nhiều mắt xích của nền kinh tế, công thương không chỉ phản ánh sức sản xuất mà còn phản ánh năng lực lưu thông hàng hóa, khả năng kết nối thị trường và mức độ tham gia vào mạng lưới kinh tế khu vực, toàn cầu.