Đóng

Từ mốc 1.000 tỷ USD đến vận hội mới của logistics Việt Nam

Xuất nhập khẩu hướng tới mốc 1.000 tỷ USD cùng những định hướng phát triển mới đang tạo động lực để logistics Việt Nam nâng chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng.

Quy mô thương mại mở rộng, logistics đứng trước dư địa lớn

Tăng trưởng mạnh của hoạt động xuất nhập khẩu đang tạo ra một thị trường ngày càng lớn cho ngành logistics Việt Nam. Trong 7 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ước đạt 659 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu đạt 319,7 tỷ USD, tăng 21,7%, nhập khẩu khoảng 339 tỷ USD, tăng 34,5%. Bộ Công Thương dự kiến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm 2026 có thể vượt mốc 1.000 tỷ USD.

Điều này cho thấy quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam đang tiếp tục được mở rộng nhanh chóng. Đằng sau sự gia tăng của kim ngạch là một khối lượng hàng hóa ngày càng lớn cần được vận chuyển, lưu kho, giao nhận, thông quan và phân phối. Điều đó đồng nghĩa với thị trường dành cho dịch vụ logistics tiếp tục mở rộng nhưng cũng đặt ra yêu cầu năng lực logistics phải phát triển tương xứng với quy mô mới của nền kinh tế.

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương

Quy mô thương mại hàng hóa không ngừng mở rộng, logistics ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng quyết định hiệu quả lưu chuyển hàng hóa và sức cạnh tranh của hoạt động xuất nhập khẩu. Trao đổi với Báo Công Thương, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương nhận định, sự phát triển của sản xuất, mở rộng thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra nhu cầu ngày càng lớn đối với dịch vụ logistics, đồng thời đặt ra yêu cầu năng lực của ngành phải được nâng lên tương xứng.

Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics tác động trực tiếp đến thời gian giao hàng, khả năng thực hiện hợp đồng và chi phí hàng hóa. Tổ chức tốt hoạt động logistics không chỉ giúp rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí lưu kho mà còn nâng cao khả năng đáp ứng đơn hàng và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Vai trò này càng trở nên rõ nét khi thương mại quốc tế liên tục chịu tác động từ những biến động địa chính trị, gián đoạn tuyến vận tải, giá nhiên liệu và thay đổi chính sách thương mại tại các thị trường. Khả năng tổ chức chuỗi cung ứng, lựa chọn phương thức và tuyến vận tải phù hợp vì vậy ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Với quy mô xuất nhập khẩu đang tiếp tục được mở rộng và tiến tới mốc 1.000 tỷ USD, nhu cầu đối với dịch vụ logistics rất lớn. Do đó, năng lực logistics cũng cần được nâng lên tương xứng để vừa đáp ứng yêu cầu lưu chuyển hàng hóa, vừa hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các cơ hội thị trường và các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia”, ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh.

Cơ hội phát triển của ngành càng được củng cố khi Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 xác lập những định hướng và mục tiêu phát triển dài hạn. Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 xác định phát triển dịch vụ logistics thành một ngành kinh tế quan trọng, có giá trị gia tăng cao; đồng thời coi logistics là yếu tố động lực, dịch vụ thiết yếu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Trong giai đoạn 2025 - 2035, Chiến lược đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dịch vụ logistics đạt 12 - 15%/năm; tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong GDP đạt 5 - 7%; chi phí logistics so với GDP giảm xuống tương đương 12 - 15%. Việt Nam đồng thời hướng tới nằm trong nhóm 40 quốc gia đứng đầu thế giới về Chỉ số hiệu quả logistics (LPI), phát triển ít nhất 5 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế.

Những mục tiêu này cho thấy yêu cầu đặt ra cho logistics Việt Nam trong giai đoạn tới không đơn thuần là mở rộng quy mô để đáp ứng lượng hàng hóa ngày càng lớn. Quan trọng hơn là chuyển sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng, qua đó biến logistics thành một trong những động lực hỗ trợ tăng trưởng của nền kinh tế.

Từ dư địa thị trường đến năng lực cạnh tranh thực chất

Cùng với sự mở rộng nhanh của sản xuất và xuất nhập khẩu, logistics Việt Nam những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể, từng bước nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu lưu chuyển hàng hóa của nền kinh tế. Đây là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục chuyển sang giai đoạn phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và có giá trị gia tăng cao hơn.

Nâng cao năng lực hạ tầng và kết nối là nền tảng để logistics Việt Nam gia tăng chất lượng và giá trị dịch vụ

Dư địa để logistics Việt Nam tiếp tục nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh vẫn còn lớn. Chi phí logistics của Việt Nam hiện được đánh giá ở mức khoảng 16 - 17% GDP, trong khi Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu giảm tỷ lệ này xuống còn 12 - 15% GDP. Đây cũng là dư địa để ngành tiếp tục tối ưu hoạt động, tăng cường kết nối, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ trong những năm tới.

Những con số này cho thấy một bài toán đáng chú ý: quy mô thương mại hàng hóa đang tăng rất nhanh, nhưng để biến dòng hàng ngày càng lớn thành động lực phát triển của ngành logistics, năng lực cung ứng dịch vụ phải được cải thiện tương ứng. Nếu những điểm nghẽn về kết nối, chi phí và chất lượng dịch vụ không được xử lý, dư địa thị trường lớn chưa chắc chuyển hóa đầy đủ thành năng lực cạnh tranh.

Theo Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải, nâng cao hiệu quả kết nối là một trong những yêu cầu quan trọng đối với logistics Việt Nam trong giai đoạn tới. Bởi logistics không vận hành như những mắt xích riêng lẻ mà là một chuỗi liên hoàn, từ vận tải, kho bãi, giao nhận đến phân phối hàng hóa, với sự tham gia của nhiều phương thức vận tải, địa phương và doanh nghiệp. Chỉ khi các mắt xích được kết nối đồng bộ, nguồn lực mới có thể được khai thác hiệu quả, qua đó tối ưu toàn bộ chuỗi logistics.

Bài toán hạ tầng vì vậy không chỉ nằm ở đường bộ, cảng biển hay sân bay mà còn liên quan đến hệ thống kho bãi, trung tâm logistics, cảng cạn và khả năng kết nối giữa khu vực sản xuất, khu công nghiệp với cửa khẩu, cảng biển và thị trường tiêu thụ. Đáng chú ý, dù Việt Nam đã có một số cảng biển, sân bay lớn, năng lực vận tải container và vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không vẫn còn những hạn chế cần khắc phục.

Cùng với hạ tầng, năng lực doanh nghiệp là yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng của ngành. Khi yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, doanh nghiệp logistics khó có thể tiếp tục chủ yếu cung cấp các dịch vụ đơn lẻ mà cần nâng khả năng cung cấp dịch vụ tích hợp, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu hơn vào quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu.

Để tạo chuyển biến, sau khi Chiến lược được phê duyệt, Bộ Công Thương đã triển khai các bước cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ. Ngày 13/3/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 458/QĐ-BCT về Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Bộ cũng tổ chức làm việc với các bộ, ngành, hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp nhằm nhận diện những vấn đề thực tế và xác định nhiệm vụ ưu tiên.

Việc đưa Chiến lược về từng địa phương có ý nghĩa đặc biệt bởi mỗi địa phương có điều kiện khác nhau về vị trí địa lý, nguồn hàng, cơ cấu kinh tế và hạ tầng. Có địa phương sở hữu cảng biển, cửa khẩu; có nơi tập trung khu công nghiệp, vùng sản xuất hàng hóa lớn; nhưng cũng có những địa phương không có lợi thế trực tiếp về logistics. Vì vậy, phát triển logistics cần gắn với lợi thế riêng, đồng thời đặt trong không gian liên kết vùng thay vì phát triển riêng lẻ.

Cùng với liên kết, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ là những động lực quan trọng. Ứng dụng công nghệ và dữ liệu có thể giúp doanh nghiệp tối ưu quản lý phương tiện, kho hàng, đơn hàng và hoạt động vận chuyển. Trong khi đó, yêu cầu về môi trường, phát thải trong chuỗi cung ứng quốc tế ngày càng rõ nét cũng buộc doanh nghiệp logistics Việt Nam phải chủ động chuyển đổi nếu muốn tham gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu.

Nghị quyết số 19/NQ-TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam ban hành tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa XIV) đã xác định phát triển mạnh các động lực tăng trưởng mới từ dịch vụ giá trị cao. Nếu chúng ta triển khai tốt Chiến lược, đồng thời tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, ngành logistics Việt Nam sẽ có điều kiện phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả và có giá trị gia tăng cao hơn”, ông Trần Thanh Hải kỳ vọng.

Từ quy mô xuất nhập khẩu 930 tỷ USD năm 2025 đến khả năng vượt 1.000 tỷ USD ngay trong năm 2026, nền tảng thị trường cho logistics Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng. Song cơ hội phát triển mới không chỉ nằm ở lượng hàng hóa nhiều hơn, mà còn ở khả năng dịch chuyển lên những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn, cung cấp dịch vụ tích hợp và tham gia sâu vào quản trị chuỗi cung ứng.

Với dư địa từ tăng trưởng xuất nhập khẩu cùng những định hướng phát triển mới đã được xác lập, logistics Việt Nam đang đứng trước cơ hội chuyển mình mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng và giá trị gia tăng. Khi hạ tầng, kết nối, công nghệ và năng lực doanh nghiệp cùng được nâng lên, logistics sẽ ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, góp phần giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Đây sẽ là nền tảng để logistics từng bước khẳng định vai trò là một động lực quan trọng trong giai đoạn tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu giai đoạn 2025 - 2035, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dịch vụ logistics đạt 12 - 15%/năm; tỷ trọng giá trị tăng thêm đạt 5 - 7% GDP; chi phí logistics giảm xuống 12 - 15% GDP; Chỉ số hiệu quả logistics (LPI) thuộc nhóm 40 quốc gia đứng đầu thế giới và phát triển ít nhất 5 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế.

Quỳnh Trang