Đóng

Từ Nghị quyết 57/NQ-TW đến hình thành hệ sinh thái AI 'Make in Vietnam'

Nghị quyết 57/NQ-TW đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo.

Ứng dụng AI là nhiệm vụ chiến lược

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. 

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (Ảnh: VPQH)

Đồng thời, từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số như: Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi...

Hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW về triển khai trí tuệ nhân tạo (AI), ngay từ thời điểm Quý III/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương đã có chủ trương, định hướng về việc thúc đẩy phát triển AI trong chuyển đổi số quốc gia cũng như phát triển kinh tế xã hội.

Tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 27/8/2025 đề ra mục tiêu hình thành tài nguyên số quốc gia chung, sử dụng dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo làm động lực phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tại Thông báo số 45-TB/TGV ngày 30/9/2025 định hướng phát triển và ứng dụng AI là nhiệm vụ chiến lược, mang tính quyết định để Việt Nam không bị tụt hậu trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.

Đến nay, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan đã tham mưu ban hành Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo, các văn bản hướng dẫn và đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định về Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia, hoàn thiện dự thảo Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Những văn bản này tạo khung pháp lý để thúc đẩy các sản phẩm, dịch vụ AI phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Việc ứng dụng AI đã bước đầu triển khai trong một số hoạt động quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ: Các ứng dụng gồm trợ lý ảo, chatbot, phân tích văn bản, dự báo, nhận dạng hình ảnh, giám sát giao thông và hỗ trợ chuyên môn trong các lĩnh vực tài chính, y tế, giáo dục, năng lượng, quản lý đô thị (Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Thành phố Hà Nội, tỉnh Gia Lai, Thái Nguyên...).

Đồng thời, việc phát triển AI được một số doanh nghiệp quan tâm, đầu tư: Tập đoàn FPT hợp tác với Tập đoàn NVIDIA đầu tư khoảng 200 triệu USD xây dựng nhà máy trí tuệ nhân tạo, cung cấp hạ tầng tính toán và trên 20 sản phẩm AI tạo sinh; các doanh nghiệp Viettel, VNPT, VinAI, Zalo, CMC đang phát triển mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt.

Người Việt có thể làm chủ công nghệ phức tạp

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ông Lưu Anh Tuấn, Phó Tổng giám đốc VinSmart Future kiêm Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học VinUni cho biết, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết 57, các doanh nghiệp Việt nói chung và Tập đoàn Vingroup nói riêng đã triển khai nhiều hoạt động thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ trong doanh nghiệp.

"Từ thực tiễn và góc nhìn của Vingroup, chúng tôi nhận thức một vấn đề cốt lõi, đó là muốn đột phá các công nghệ chiến lược, Việt Nam phải coi AI và Big Data là hạ tầng nền của nền kinh tế" - ông Lưu Anh Tuấn nói. 

AI hiện nay đã vượt xa phạm vi một ứng dụng công nghệ. AI là lớp năng lực xuyên suốt, có thể tăng tốc bán dẫn, robot, sản xuất thông minh, y tế, giáo dục, tài chính, đô thị thông minh, quản trị quốc gia và quốc phòng an ninh. Dữ liệu là nguyên liệu chiến lược; AI là động cơ chuyển hóa nguyên liệu đó thành tri thức, quyết định, năng suất và sản phẩm thương mại.

Ông Lưu Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc VinSmart Future kiêm Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Trí tuệ Nhân tạo Trường Đại học VinUni 

Quốc gia nào làm chủ được dữ liệu, mô hình nền tảng và hạ tầng tính toán sẽ có quyền chủ động trong các chuỗi giá trị công nghệ mới. Trong khi đó, cơ hội của Việt Nam rất rõ với dân số lớn, thị trường số tăng nhanh, lực lượng kỹ sư trẻ và cộng đồng người Việt công nghệ trên toàn cầu. 

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lưu Anh Tuấn cho hay, Vingroup hiện đã đầu tư xây dựng bộ dữ liệu tiếng Việt quy mô hơn 350 tỉ tokens, phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn có kích thước lên tới 420 tỉ tham số và đang hình thành hệ sinh thái ứng dụng AI trong toàn Tập đoàn. Điều đó cho thấy người Việt có thể làm chủ công nghệ phức tạp nếu có mục tiêu lớn, cách tổ chức đúng và cơ chế đủ mở.

Để AI thực sự trở thành động lực tăng trưởng

Tại hội nghị, Phó Tổng giám đốc VinSmart Future đã đề xuất 6 đột phá chiến lược nhằm phát huy hiệu quả việc tích hợp AI và Big Data để thúc đẩy phát triển các công nghệ chiến lược của đất nước.

Thứ nhất, xây dựng hạ tầng dữ liệu AI quốc gia. Dữ liệu cần được coi là tài nguyên chiến lược của quốc gia. Hiện nay dữ liệu còn phân tán giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; thiếu tiêu chuẩn thống nhất và cơ chế chia sẻ an toàn.

Vì vậy, Chính phủ cần triển khai Chương trình Hạ tầng dữ liệu AI quốc gia, bao gồm chuẩn hóa dữ liệu; xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa Nhà nước, doanh nghiệp và viện trường; phát triển các kho dữ liệu mở; hình thành các Data Trust cho những lĩnh vực quan trọng. Đây sẽ là nền tảng để phát triển các mô hình AI mang bản sắc và lợi thế của Việt Nam.

Thứ hai, đầu tư phát triển các mô hình AI nền tảng "Make in Vietnam". Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc vào các mô hình AI nước ngoài, kéo theo chi phí lớn, phụ thuộc công nghệ và rủi ro về dữ liệu.

Chính phủ có thể xây dựng Chương trình AI Quốc gia với trọng tâm là phát triển các mô hình AI nền tảng như mô hình ngôn ngữ lớn, mô hình đa phương thức, mô hình AI cho robot, sản xuất thông minh và các lĩnh vực chiến lược. Các mô hình này cần được phát triển theo hướng nền tảng mở để cộng đồng doanh nghiệp có thể tiếp tục phát triển hàng nghìn ứng dụng khác nhau, hình thành hệ sinh thái AI Make in Vietnam.

Thứ ba, phát triển hạ tầng tính toán AI quốc gia. Bên cạnh dữ liệu và mô hình, năng lực tính toán là điều kiện tiên quyết để phát triển AI. Đây hiện là điểm nghẽn lớn của Việt Nam khi chi phí đầu tư GPU rất cao và vượt quá khả năng của đa số doanh nghiệp và trường đại học.

Do đó, Chính phủ cần đầu tư hạ tầng tính toán AI quốc gia theo mô hình dùng chung, tương tự hạ tầng điện toán đám mây, cho phép các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tính toán với chi phí hợp lý. Hạ tầng này cần được xác định là hạ tầng chiến lược quốc gia, giống như điện, viễn thông hay cao tốc.

Thứ tư, đổi mới thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trong AI, rào cản lớn nhất hiện nay không còn là thuật toán mà là thể chế. Kiến nghị sớm ban hành khung pháp lý theo hướng xây dựng AI Sandbox cho các công nghệ mới; hoàn thiện quy định về dữ liệu; ưu tiên mua sắm công đối với các sản phẩm AI trong nước; xây dựng tiêu chuẩn đánh giá AI đáng tin cậy; đồng thời áp dụng cơ chế đầu tư và nghiệm thu linh hoạt đối với các chương trình nghiên cứu AI, phù hợp với đặc thù đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài AI. Cuộc cạnh tranh AI thực chất là cuộc cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao. Cần xây dựng Chiến lược quốc gia về nhân tài AI, bao gồm đào tạo đội ngũ chuyên gia trình độ cao; thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế; hình thành các trung tâm AI xuất sắc; khuyến khích khởi nghiệp DeepTech; đồng thời tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các trường đại học để rút ngắn quá trình chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

Thứ sáu, thúc đẩy thương mại hóa và đưa AI Việt Nam ra toàn cầu. Để AI thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần hình thành các doanh nghiệp AI có quy mô khu vực và quốc tế.

Chính phủ cần triển khai Chương trình Vietnam AI Global, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm đạt chuẩn quốc tế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, kết nối với các quỹ đầu tư và mở rộng thị trường toàn cầu. Đồng thời, cần coi khu vực công là 'khách hàng đầu tiên' (Government as the First Customer) đối với các sản phẩm AI Make in Vietnam, tạo thị trường ban đầu để doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ trước khi vươn ra quốc tế.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là động lực chủ yếu để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là định hướng phát triển khoa học và công nghệ, mà còn là chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW sẽ ngày càng lan tỏa mạnh mẽ khi thể chế mở đường, dữ liệu được khai thông, hạ tầng được đầu tư, nhân tài được trọng dụng và thị trường được kích hoạt, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chủ yếu của nền kinh tế, đồng thời hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. 

Nghị quyết số 57-NQ/TW nêu rõ: Phát triển mạnh mẽ ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn đối với các ngành, lĩnh vực quan trọng; xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo.

Quỳnh Nga