Đóng

Từ ý kiến đại biểu Quốc hội tới nỗ lực của ngành Công Thương - Bài 4: Tâm huyết nghị trường và đổi mới của ngành trụ cột

Trong hai ngày 30 và 31/10, các đại biểu kiến nghị nhiều giải pháp về năng lượng, khoáng sản, nhà cung ứng nội địa và logistics. Ngành Công Thương có việc, có mốc trình ngay tháng 11.

Những kiến nghị về năng lượng, khoáng sản chiến lược, công nghiệp hỗ trợ, logistics mà đại biểu Quốc hội nêu chiều 30/10 và sáng 31/10/2026 đều đã có việc làm cụ thể của ngành Công Thương. Hai văn bản lớn, Chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia và điều chỉnh quy hoạch khoáng sản nhóm I, được trình trong tháng 11/2026.

Kiến nghị từ nghị trường

Chiều 30/10/2026, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về tình hình kinh tế, xã hội năm 2026, dự kiến kế hoạch năm 2027, ngân sách nhà nước. Phiên họp có 27 lượt đại biểu phát biểu, tranh luận, được truyền hình, phát thanh trực tiếp. Trong đó, 14 đại biểu có ý kiến thuộc lĩnh vực ngành Công Thương.

Các ý kiến mang tinh thần góp ý xây dựng, tập trung vào bốn nhóm: năng lượng cho tăng trưởng; khoáng sản chiến lược; đưa doanh nghiệp Việt thành nhà cung ứng; cán cân thương mại, logistics.

Sáng 31/10/2026, phiên thảo luận ở Hội trường tiếp tục. Đại biểu Nguyễn Cao Sơn (đoàn Phú Thọ), từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, kiến nghị bốn nhóm giải pháp nhằm giảm chi phí, khơi thông đầu tư, giữ vững mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026, 2027. Đại biểu đồng tình với chủ trương giảm giá điện để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.

Năng lượng đi trước một bước

Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh (đoàn Ninh Bình) đề nghị với các dự án giao thông, điện, năng lượng "cần phối hợp đồng bộ giữa quy hoạch giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu, lưới truyền tải, thu xếp vốn và hợp đồng mua, bán điện"; sớm hoàn thành chiến lược dự trữ năng lượng, xây dựng phương án dự phòng nguồn điện, xăng dầu theo các kịch bản.

Theo Bộ Công Thương, thực hiện Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Nghị quyết số 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 của Chính phủ, Quyết định số 125/QĐ-TTg ngày 16/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng dự thảo Chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ngày 28/9/2026, Bộ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược (Tờ trình số 7812/TTr-BCT). Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, Bộ đang phối hợp với các bộ, ngành làm rõ một số điểm cần lưu ý, dự kiến trình lại Thủ tướng Chính phủ đầu tháng 11/2026 để xem xét, ban hành.

Chiến lược hướng tới hệ thống dự trữ năng lượng quốc gia đa tầng, đa chủ thể, vận hành linh hoạt, có quy mô, cơ cấu, phân bố phù hợp với mức độ rủi ro và khả năng cân đối nguồn lực từng thời kỳ. Hệ thống gồm năm hình thức: dự trữ quốc gia thuộc sở hữu nhà nước; dự trữ chung thuộc sở hữu nhà nước; dự trữ bắt buộc của doanh nghiệp; dự trữ theo chứng chỉ hoặc hợp đồng xác lập quyền ưu tiên tiếp cận hàng hóa của bên thứ ba; dự trữ thương mại của doanh nghiệp có khả năng huy động khi khẩn cấp. Mục tiêu là nâng mức tự chủ, khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng năng lượng, bảo đảm nguồn cung cả khi bình thường lẫn khi xảy ra khủng hoảng hoặc gián đoạn.

Song song, Bộ theo dõi cung cầu năng lượng hằng ngày, từ năng lượng sơ cấp đến năng lượng cuối cùng; xây dựng các kịch bản bảo đảm an ninh năng lượng ngắn hạn, trung hạn để phục vụ điều hành, từ phương thức vận hành hệ thống điện hằng tháng tới kịch bản ứng phó biến động địa chính trị.

Bộ đang rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, dự kiến trình Chính phủ phê duyệt ngay trong năm 2026.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng chủ trì buổi làm việc với Cục Năng lượng - Dầu khí chiều 1/10/2026.

Để bảo đảm điện cho năm 2027, Bộ đã chỉ đạo vận hành linh hoạt các hồ chứa thủy điện, tích nước lên mực nước dâng bình thường vào cuối năm 2026; hoàn thiện phương án tăng cường nhập khẩu điện từ Lào, Trung Quốc. Với lưới truyền tải, Bộ đang hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết việc thực hiện dự án lưới điện theo phương thức đối tác công tư (PPP), mở cửa cho nguồn lực ngoài nhà nước.

Dưới góc độ đại biểu Quốc hội, đại biểu Nguyễn Cao Sơn (đoàn Phú Thọ) cho rằng để giảm giá điện bền vững "cần giảm chi phí đầu tư và vận hành". Đại biểu đề nghị ưu tiên vốn cho các đường dây truyền tải, trạm biến áp theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh để giải tỏa công suất, có cơ chế vay vốn ưu đãi cho thiết bị điện gió, điện mặt trời, thủy điện nhập khẩu, tiếp tục bố trí vốn giai đoạn 2026 - 2030 nâng cấp lưới điện trung, hạ áp ở khu vực điện yếu, cuối nguồn, vùng lõm của tỉnh. Các kiến nghị này cùng hướng với hai việc Bộ Công Thương đang làm: rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và trình Nghị định về dự án lưới điện theo phương thức đối tác công tư, mở thêm nguồn vốn ngoài ngân sách cho lưới điện.

Lưới điện nông thôn đã có nền để nâng cấp. Thông tin từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam, năm 2025, 100% số xã trên cả nước có điện, 99,85% số hộ dân được sử dụng điện, trong đó hộ dân nông thôn đạt 99,77%. Đầu tư cho lưới điện trung, hạ áp ở khu vực điện yếu, cuối nguồn là bước tiếp theo để nâng chất lượng điện, đúng như kiến nghị của đại biểu.

Tại phiên thảo luận tại Tổ ngày 24/10, đại biểu Trần Quốc Tuấn (đoàn Vĩnh Long) nêu một số dự án năng lượng tái tạo đi qua nhiều địa bàn, có sử dụng khu vực biển, khi địa phương chưa nhận được hướng dẫn thống nhất thì tiến độ chấp thuận chủ trương đầu tư bị kéo dài. Bộ Công Thương đề xuất sửa Luật Điện lực cùng Nghị định hướng dẫn theo hướng giao Bộ là cơ quan thống nhất quản lý số liệu khảo sát, là đầu mối duy nhất giao khu vực biển khảo sát, thẩm định, phê duyệt kết quả; đồng thời xây dựng quy trình đấu thầu riêng để lựa chọn nhà đầu tư dự án điện gió ngoài khơi. Một đầu mối thay cho nhiều đầu mối là lời đáp trực tiếp cho băn khoăn của địa phương.

Thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách Nhà nước chiều 30/10, đại biểu Lý Anh Thư (đoàn An Giang) kiến nghị cấp điện lưới quốc gia cho các đảo An Sơn, Nam Du, đặc khu Thổ Châu. Đại biểu nêu thực tiễn Phú Quốc cho thấy "điện cần đi trước một bước", đồng thời trân trọng việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1957/QĐ-TTg ngày 9/10/2026, đưa dự án cấp điện lưới cho An Sơn, Nam Du vào Chương trình chuyển đổi năng lượng bền vững Việt Nam, EU. Bộ Công Thương ghi nhận kiến nghị, sẵn sàng phối hợp với các Bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp để giải quyết kiến nghị này.

Khoáng sản chiến lược: Giữ giá trị gia tăng trong nước

Tại các phiên thảo luận tổ ngày 22 và 24/10, đại biểu Hà Sỹ Huân (đoàn Thái Nguyên) đề nghị chính sách miễn, giảm thuế, tiền sử dụng đất, hỗ trợ tiền điện cho dự án khai thác, chế biến sâu vonfram, bismut, đất hiếm; hình thành khu, cụm công nghiệp chuyên sâu về vật liệu chiến lược. Tại phiên thảo luận tình hình kinh tế - xã hội tại hội trường ngày 30/10, đại biểu đề xuất xác định Thái Nguyên là "trung tâm vật liệu chiến lược quốc gia".

Nhiều chính sách đại biểu đề nghị đã có hiệu lực. Như đại biểu đã dẫn, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ đã đưa công nghệ khai thác, chế biến sâu khoáng sản, đất hiếm vào Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, hiệu lực từ 1/7/2026. Theo Bộ Công Thương, doanh nghiệp, dự án trong lĩnh vực này được hỗ trợ tới 100% lãi suất vay, được Nhà nước tài trợ tới 100% kinh phí nhiệm vụ nghiên cứu do Nhà nước đặt hàng, được ưu đãi thuế với chi phí nghiên cứu và phát triển.

Bộ Công Thương đang đẩy nhanh thẩm định dự thảo Chiến lược quốc gia về đất hiếm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để trình Thủ tướng Chính phủ; phối hợp tham mưu Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu, trình ban hành trong quý IV/2026. Dự thảo quyết định về danh mục, mức độ chế biến của khoáng sản được phép xuất khẩu. Trong đó, đất hiếm chỉ được xuất khẩu ở dạng đã chế biến sâu.

Trước đó, vào tháng 3/2026, tỉnh Lâm Đồng cũng đề nghị các bộ, ngành liên quan xem xét, điều chỉnh đưa khoảng 65.766 ha diện tích chồng lấn quy hoạch khoáng sản bô-xít, khoảng 2.212 ha chồng lấn quy hoạch titan trên địa bàn tỉnh ra khỏi quy hoạch khoáng sản nhóm I. Từ ngày 15/9/2026, Bộ Công Thương tiếp nhận Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ngày 27/10/2026, Hội đồng thẩm định điều chỉnh Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản nhóm I, được thành lập theo Quyết định số 2019/QĐ-TTg ngày 21/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ đã họp. Bộ đang tiếp thu, giải trình ý kiến Hội đồng để trình Chính phủ trong tháng 11/2026.

Với khoáng sản làm vật liệu xây dựng, nhiều ý kiến cho rằng cần hoàn thiện Luật Địa chất và khoáng sản theo hướng đưa đất thông thường chỉ phù hợp làm vật liệu san lấp, đắp nền ra khỏi danh mục khoáng sản nhóm IV, quản lý bằng cơ chế chấp thuận phương án khai thác có điều kiện; xử lý dứt điểm thủ tục thăm dò, cấp phép, nâng công suất các mỏ cát, mỏ đá làm vật liệu xây dựng thông thường đã có trong quy hoạch.

Nhiều điểm tháo gỡ đã có hiệu lực. Trước đó, nhằm tháo gỡ khó khăn về nguồn cung vật liệu xây dựng cho các công trình, dự án trọng điểm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025, quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng và khoáng sản nhóm IV.

Theo đó, đối với các dự án đầu tư công, dự án PPP, công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, công trình khẩn cấp và một số dự án khác thuộc phạm vi điều chỉnh, việc thăm dò, khai thác được áp dụng cơ chế đơn giản hóa thủ tục đầu tư, đất đai và môi trường. Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp giấy phép thăm dò, khai thác cho nhà thầu thi công, nhà đầu tư thi công hoặc tổ chức, cá nhân đủ điều kiện theo quy định.

Nghị quyết cũng cho phép điều chỉnh giấy phép để nâng công suất khai thác, không tăng trữ lượng đã cấp phép; mức nâng không quá 50% đối với cát, sỏi lòng sông, cửa biển và không hạn chế đối với khoáng sản nhóm III còn lại, khoáng sản nhóm IV.

Tiếp đó, Luật số 147/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã luật hóa một số cơ chế đặc thù, đồng thời điều chỉnh các quy định về cấp phép khai thác khoáng sản nhóm III, nhóm IV và nâng công suất mỏ phục vụ các công trình, dự án thuộc diện được áp dụng chính sách.

Thực hiện Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP ngày 4/9/2026 của Chính phủ về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản, từ ngày 15/9/2026, Bộ Công Thương tiếp nhận chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, trong đó có một số nhiệm vụ liên quan đến việc triển khai Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản.

Các mốc của ngành vật liệu theo Kết luận 83-KL/TW ngày 8/8/2026 về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.

Từ chủ trương đến con số nhà cung ứng

Tại phiên thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chiều 30/10, đại biểu Phạm Hùng Thắng (đoàn Ninh Bình) đề nghị đánh giá hiệu quả hỗ trợ bằng việc doanh nghiệp "trở thành nhà cung ứng, có hợp đồng ổn định và nâng cao được giá trị gia tăng"; cụ thể hóa các quyết định phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035; phê duyệt Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng lưới phân phối ở nước ngoài đến năm 2030 thành chỉ tiêu hằng năm, mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp 1.

Khung để đo đếm ấy đã có. Ngày 25/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 do Bộ Công Thương trình. Đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu góp phần đưa một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40 - 45%, với mục tiêu cụ thể cho từng ngành.

Mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa theo Quyết định số 929/QĐ-TTg.

Kỹ thuật viên vận hành máy gia công cơ khí chính xác tại một nhà máy.

Để đạt các mốc này, Bộ tập trung hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng năng lực thiết kế, cung cấp các gói hỗ trợ vốn; đề xuất cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài gắn với cam kết tỷ lệ nội địa hóa.

Trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội ngày 30/10, đại biểu Lê Hữu Trí (đoàn Khánh Hòa) ghi nhận xuất khẩu 9 tháng năm 2026 tăng 24,5%, vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 21,1 tỷ USD, tăng 12,1%; đề nghị đánh giá sâu hơn phần giá trị thực sự tạo ra tại Việt Nam, mức tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước. Đại biểu kiến nghị phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa hợp lý, thúc đẩy chuyển giao công nghệ; có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nước ngoài liên kết thực chất với doanh nghiệp Việt Nam thay vì chỉ đánh giá bằng vốn đăng ký, vốn giải ngân. Đại biểu cũng lưu ý thiếu năng lượng cho sản xuất là một yếu tố làm tăng trưởng thiếu bền vững.

Cùng với Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài gắn với cam kết tỷ lệ nội địa hóa mà Bộ Công Thương đề xuất chính là thước đo liên kết thực chất đại biểu đặt ra: hiệu quả được tính bằng giá trị và công đoạn của doanh nghiệp Việt tham gia trong chuỗi cung ứng, không chỉ bằng số vốn rót vào. Về năng lượng cho sản xuất, Chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cùng cơ chế mở lưới truyền tải cho nguồn vốn ngoài nhà nước nêu ở trên là những lời đáp trực tiếp.

Cán cân thương mại chuyển hướng tích cực

Tại phiên thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chiều 30/10, đại biểu Trần Anh Tuấn (đoàn TP. Hồ Chí Minh) đề nghị cải thiện cán cân thương mại khi 9 tháng nhập siêu hàng chục tỷ USD.

Theo Bộ Công Thương, mức nhập siêu tập trung ở lĩnh vực điện tử thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, do giá năng lượng, linh kiện điện tử thế giới tăng mạnh, doanh nghiệp tăng nhập nguyên liệu, máy móc để tăng dự trữ, mở rộng đầu tư. Bộ đã làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp để rà soát. Từ tháng 9/2026, cán cân thương mại đã điều chỉnh tích cực, bắt đầu xuất siêu. Cụ thể, tháng 9/2026, Việt Nam xuất siêu 1,27 tỷ USD, đảo chiều sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu. Theo ước tính của Bộ Công Thương, trong tháng 10/2026, Việt Nam xuất siêu khoảng 6,8 tỷ USD, nối tiếp tháng 9 xuất siêu 1,27 tỷ USD.

Thời gian tới, Bộ quản trị cán cân thương mại theo chuỗi giá trị, dòng tiền từ khâu nhập khẩu, sản xuất tới xuất khẩu; cảnh báo sớm phòng vệ thương mại, kiểm soát xuất xứ, chống chuyển tải bất hợp pháp, nâng giá trị thực thu cùng sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam.

Đại biểu Phạm Nam Tiến (đoàn Lâm Đồng) đề nghị đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường tiêu thụ, tổ chức thành công Năm APEC 2027 như một đòn bẩy kinh tế. Theo Bộ Công Thương, Bộ tiếp tục mở rộng, đa dạng hóa thị trường, tận dụng các hiệp định thương mại tự do.

Cũng trong phiên thảo luận trên, đại biểu Lý Thị Lan (đoàn Tuyên Quang) đề nghị hình thành trung tâm logistics trên cơ sở nguồn hàng, nhu cầu vận tải, kết nối vùng sản xuất, cơ sở chế biến với cao tốc, cửa khẩu. Đại biểu Hà Đức Minh (đoàn Lào Cai) đề nghị đẩy mạnh đầu tư hạ tầng logistics gắn với chuyển đổi số, khi chi phí logistics hiện chiếm "khoảng 16% - 18% GDP, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình của thế giới là 10 - 12%". Đại biểu Tô Ái Vang (đoàn Cần Thơ) nêu chi phí logistics vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở mức 20% đến 25% giá thành do hạ tầng giao thông trục ngang, đường thủy liên tỉnh chưa đồng bộ.

Với những kiến nghị này, Bộ Công Thương đã, đang và sẽ cùng các bộ, ngành, địa phương triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025), trọng tâm là trung tâm logistics, chuỗi kho lạnh gắn với vùng sản xuất, vùng nông sản, cửa khẩu, cảng biển. Bộ sẽ tham mưu cơ chế ưu đãi đầu tư kho lạnh tại vùng nông sản chủ lực, đẩy mạnh liên kết hợp tác xã với doanh nghiệp logistics chuyên nghiệp.

Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đã đặt mục tiêu rõ cho bài toán này: giai đoạn 2025 đến 2035, chi phí logistics giảm xuống 12% đến 15% GDP, 80% doanh nghiệp logistics ứng dụng giải pháp chuyển đổi số; đến năm 2050, chi phí logistics còn 10% đến 12% GDP. Hệ thống kho lạnh gắn vùng nông sản chủ lực mà Bộ Công Thương đang tham mưu cơ chế ưu đãi là lời đáp trực tiếp cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đại biểu Nguyễn Đăng Ân (đoàn Lạng Sơn) đề nghị để phát triển kinh tế cửa khẩu thực sự thành động lực tăng trưởng, hạ tầng cửa khẩu phải gắn với trung tâm logistics, công nghiệp chế biến, dịch vụ thương mại, vùng sản xuất, không chỉ giới hạn ở hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới; nhìn nhận kinh tế cửa khẩu Lạng Sơn trong liên kết vùng với Cao Bằng, Lào Cai, Quảng Ninh, Hải Phòng; đẩy nhanh đầu tư cửa khẩu số, cửa khẩu thông minh. Đại biểu cũng đề nghị chú trọng quy mô, chất lượng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, không chỉ đếm số doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Hướng đi ấy trùng với trọng tâm của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics: trung tâm logistics, chuỗi kho lạnh gắn với vùng sản xuất, cửa khẩu, cảng biển. Theo Bộ Công Thương, Bộ sẽ phối hợp chặt chẽ với ngành giao thông vận tải và các địa phương để bảo đảm kết nối thông suốt giữa các trung tâm logistics, vùng nguyên liệu với mạng lưới giao thông quốc gia.

Giữ nhịp thị trường cuối năm

Đối với lĩnh vực thị trường trong nước, đại biểu Trần Quốc Tuấn (đoàn Vĩnh Long) đề nghị điều hành giá theo một kịch bản thống nhất, theo dõi riêng các mặt hàng thiết yếu, công khai trước lộ trình điều chỉnh giá do Nhà nước quản lý. Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh (đoàn Ninh Bình) đề nghị điều hành giá theo lộ trình có tính toán, bảo đảm nguồn cung hàng thiết yếu, xử lý nghiêm đầu cơ, gian lận giá. Đại biểu Hà Đức Minh (đoàn Lào Cai) đề nghị xây dựng kế hoạch tổng thể bảo đảm an ninh năng lượng, xăng dầu, cắt giảm chi phí trung gian, kiểm soát lâu dài chi phí đầu vào.

Thị trường trong nước tăng trưởng ổn định thời gian qua.

Ngay ngày 30/10/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng ký Chỉ thị số 12/CT-BCT về việc thực hiện các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2026 và dịp Tết Nguyên đán Đinh Mùi 2027. Với năng lượng, Chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia sắp trình lại cùng việc theo dõi cung cầu hằng ngày nêu ở trên là khung tổng thể mà đại biểu đề nghị.

Từ hải đảo An Giang, vùng vonfram Thái Nguyên, vùng bô-xít Lâm Đồng tới cửa khẩu Lạng Sơn, các vùng sản xuất Phú Thọ, Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi ý kiến tại nghị trường những ngày cuối tháng 10 mang theo tâm huyết của đại biểu Quốc hội, tiếng nói của cử tri, doanh nghiệp với ngành Công Thương. Những góp ý thẳng thắn, xây dựng ấy vừa ghi nhận kết quả, vừa chỉ ra việc cần làm tiếp; ngành Công Thương trân trọng, cảm ơn sự đồng hành đó.

Nhiều kiến nghị đã có văn bản, có mốc trình cụ thể ngay trong tháng 11. Với vai trò ngành kinh tế trụ cột, ngành Công Thương tiếp tục đưa ý kiến đại biểu vào từng dự án luật, chiến lược, quy hoạch đang hoàn thiện, để năng lượng đi trước, thị trường ổn định, doanh nghiệp Việt lớn lên trong chuỗi cung ứng, góp phần giữ vững mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Lâm Vỹ Sơn - Bảo Ngọc