Đóng

Vì sao nhiều doanh nghiệp không thể 'đóng cửa thuận lợi'?

Khoảng 617.000 mã số thuế thuộc diện rà soát, nhiều doanh nghiệp muốn "đóng cửa" vẫn vướng hồ sơ, chi phí, đòi hỏi cơ chế xử lý phù hợp hơn.

617.000 mã số thuế cần làm sạch 

Thời gian qua, tình trạng nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động kéo dài nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hiệu lực mã số thuế nhận được sự quan tâm của dư luận. Phát biểu tại tọa đàm "Làm sạch mã số thuế: Làm sao để doanh nghiệp "đóng cửa" thuận lợi?" ngày 9/10 do Báo Dân trí phối hợp với Cục Thuế (Bộ Tài chính) tổ chức, ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) cho biết, hiện có khoảng 617.000 mã số thuế thuộc diện rà soát, tích lũy qua rất nhiều năm. Các mã số thuế này ở trạng thái 03 và 06 theo thuật ngữ đăng ký thuế. Đó là người nộp thuế đã tạm dừng hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước và người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế.

Theo ông Huy, nhiều doanh nghiệp đã làm thủ tục giải thể với cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng chưa hoàn thiện các nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, nghĩa vụ bảo hiểm và các nghĩa vụ liên quan nên chưa đóng hẳn mã số thuế. Không ít doanh nghiệp khác đã không làm thủ tục đóng mã số thuế hay thông báo với cơ quan chức năng, đồng thời không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

Toàn cảnh toạ đàm.

"Chúng tôi đặt ra mục tiêu là phải rà soát, làm sạch mã số thuế, làm sao để các đối tượng doanh nghiệp này có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về ngân sách nhà nước, nghĩa vụ về khai, nộp thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan, để họ có thể quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc rời bỏ thị trường", ông Huy nói.

Theo ông Huy, sau gần 5 tháng, khoảng hơn 125.000 doanh nghiệp đã hoàn tất các thủ tục để giải thể. Hơn 50.000 doanh nghiệp được xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế và đang tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ khác trước khi giải thể tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Khoảng 4.000 doanh nghiệp đã khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, so với tổng số 617.000 mã số thuế thuộc diện rà soát, khối lượng công việc còn lại vẫn rất lớn. Điều đó đặt ra câu hỏi: vì sao nhiều doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh nhưng vẫn chưa làm ngay thủ tục giải thể, chấm dứt mã số thuế?

3 nguyên nhân chính mã số thuế doanh nghiệp bị “treo”

Theo ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội, Việt Nam hiện có 1,1 triệu doanh nghiệp, trong đó 98,5% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xuất phát từ thực tiễn đó, ông Mạc Quốc Anh chỉ ra ba nguyên nhân chính.

Thứ nhất là thiếu thông tin, nhận thức chưa đầy đủ. Nhiều doanh nghiệp cho rằng khi đã đóng cửa văn phòng, không còn doanh thu, hóa đơn hay giao dịch thì coi như đã dừng hoạt động.

"Về mặt pháp lý, nếu chưa hoàn thành các thủ tục thì doanh nghiệp vẫn còn mã số thuế, vẫn còn tồn tại trên các hệ thống. Như vậy sẽ kéo theo hàng loạt thủ tục, các doanh nghiệp phải tiếp tục kê khai", ông Mạc Quốc Anh phân tích.

Thứ hai là tâm lý ngại thủ tục. Khi hoạt động khó khăn, chủ doanh nghiệp thường ưu tiên xử lý công nợ, người lao động, tài sản, mặt bằng. Hồ sơ thuế, kế toán và thủ tục giải thể bị để sau với suy nghĩ "khi nào có điều kiện thì sẽ xử lý". Sự trì hoãn khiến vấn đề tích tụ qua nhiều năm. Càng kéo dài, hồ sơ càng khó khôi phục do chứng từ thất lạc, nhân sự kế toán thay đổi, thông tin liên hệ không còn chính xác.

Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế).

Thứ ba là chi phí rời bỏ thị trường đôi khi chưa tương xứng với quy mô doanh nghiệp. Một doanh nghiệp rất nhỏ, thậm chí không phát sinh doanh thu, khi quay lại hoàn thiện thủ tục vẫn phát sinh chi phí rà soát hồ sơ, chứng từ, kê khai và xử lý vi phạm hành chính.

Những khoản chi phí này được bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam chỉ ra qua các trường hợp cụ thể. Một doanh nghiệp có tiền phạt chậm nộp tờ khai khoảng 23 triệu đồng. Khi cộng lệ phí môn bài và tiền chậm nộp, tổng số tiền phải xử lý lên tới 63 - 65 triệu đồng, có trường hợp khoảng 100 triệu đồng. Một xưởng gỗ của thương binh phải dừng hoạt động sau dịch Covid-19, đến nay khoản phạt liên quan đến thủ tục đã lên tới 61 triệu đồng.

"Với doanh nghiệp không còn doanh thu, đây là khoản chi phí không dễ giải quyết. Khó khăn còn nằm ở quá trình quyết toán thuế với những hồ sơ kéo dài nhiều năm, mất hóa đơn, thiếu chứng từ. Trong khi đó, nguồn lực của cơ quan thuế có hạn, việc xác minh từng trường hợp cần thời gian", bà Cúc nhấn mạnh.

Từ thực tế trên, các chuyên gia cùng đặt ra yêu cầu phân loại rõ bản chất từng trường hợp. Ông Mạc Quốc Anh cho rằng nghĩa vụ thuế thực tế phải được thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên, với sai sót thủ tục hành chính của doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu hoặc không có hành vi gian lận, cần có cơ chế xử lý hợp lý hơn.

Bà Nguyễn Thị Cúc đề xuất phân biệt hai nhóm. Một bên là doanh nghiệp không phát sinh nghĩa vụ thuế thực tế, không có dấu hiệu gian lận. Bên kia là nhóm cố tình né tránh nghĩa vụ, mua bán hóa đơn bất hợp pháp hoặc bỏ trốn. Theo bà, không phát sinh doanh thu không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn nghĩa vụ kê khai. Song, nếu không phân biệt, doanh nghiệp chỉ mắc sai sót thủ tục có thể gặp rào cản như trường hợp cố tình gian lận.

Bà Cúc đề xuất nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp đối với các khoản phạt thủ tục, phạt chậm nộp tờ khai và nghĩa vụ tồn đọng của nhóm doanh nghiệp không gian lận, trên cơ sở điều kiện và thẩm quyền theo quy định pháp luật. Đây là kiến nghị cần được đánh giá, hoàn thiện cơ sở pháp lý, không đồng nghĩa với việc tự động xóa mọi khoản nợ hoặc miễn trách nhiệm cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, theo ông Mạc Quốc Anh, cần nâng cao hiệu quả cảnh báo sớm, thông báo đa kênh và hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp. Cơ quan quản lý cần công khai quy trình, thành phần hồ sơ, đầu mối giải quyết. Đồng thời, cần tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và các đơn vị liên quan để hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục hồ sơ, xác định chính xác nghĩa vụ còn phải thực hiện. Theo ông, nếu doanh nghiệp chủ động công khai, minh bạch thì không chỉ hỗ trợ ngành thuế mà quan trọng là hỗ trợ chính bản thân doanh nghiệp.

Có thể thấy, với hàng trăm nghìn mã số thuế còn tồn đọng, việc giúp doanh nghiệp "đóng cửa" thuận lợi vẫn cần thêm thời gian và giải pháp. Khi từng trường hợp được phân loại đúng bản chất, cơ chế xử lý phù hợp, quy trình rõ ràng và doanh nghiệp chủ động, những doanh nghiệp đã thực sự ngừng kinh doanh mới có thể rời thị trường đúng quy định. Điều đó góp phần làm sạch dữ liệu và cải thiện môi trường kinh doanh.

An Nhiên