Từ ngày 1/7/2026, Chính phủ chính thức áp dụng các quy định mới về vị trí việc làm đối với viên chức theo Nghị định số 232/2026/NĐ-CP. Nghị định quy định toàn diện về nguyên tắc xác định vị trí việc làm, danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp, bản mô tả công việc, khung năng lực cũng như thẩm quyền quản lý, phê duyệt và điều chỉnh vị trí việc làm tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
Từ ngày 1/7/2026, việc xác định vị trí việc làm của viên chức được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 232/2026/NĐ-CP. Ảnh minh họa
Theo Nghị định, việc xác định vị trí việc làm phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời bảo đảm phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.
Mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng. Việc cụ thể hóa nội dung công việc theo từng lĩnh vực chuyên môn, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực, nhưng không làm thay đổi tên gọi hoặc phát sinh vị trí việc làm mới.
Đối với vị trí quản lý, Nghị định quy định một chức danh quản lý chỉ tương ứng với một vị trí việc làm. Trường hợp có từ hai người trở lên giữ chức danh cấp phó, việc phân công phụ trách từng lĩnh vực không làm phát sinh thêm vị trí việc làm hoặc thay đổi tên gọi vị trí đã được xác định.
Danh mục vị trí việc làm viên chức được chia thành ba nhóm gồm: vị trí việc làm quản lý, vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ. Việc xác định, sử dụng các vị trí này phải bảo đảm không phát sinh vị trí ngoài danh mục khung, không chia, tách, gộp hoặc thay đổi tên gọi vị trí việc làm do Chính phủ quy định.
Trong trường hợp một vị trí được quy định đồng thời ở nhóm chuyên môn, nghiệp vụ và nhóm hỗ trợ, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định áp dụng danh mục phù hợp trên cơ sở các tiêu chí như mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị; tính chất sản phẩm đầu ra; yêu cầu về năng lực chuyên ngành và vai trò của vị trí trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Nghị định cũng quy định thống nhất bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm trên phạm vi cả nước, gồm 5 bậc từ bậc 1 đến bậc 5. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng cho từng vị trí nhưng không vượt quá số bậc được quy định trong danh mục.
Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp phù hợp với năng lực và yêu cầu công việc, đồng thời được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp không làm thay đổi vị trí việc làm đang đảm nhiệm và được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức.
Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, viên chức tiếp tục áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Theo đó, bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B; bậc 2 là loại A0; bậc 3 là loại A1; bậc 4 là loại A2.1 và bậc 5 là loại A3.1. Đối với viên chức giữ vị trí quản lý, việc xếp lương được thực hiện theo bậc nghề nghiệp của vị trí chuyên môn hoặc hỗ trợ đang giữ, đồng thời hưởng phụ cấp chức vụ theo quy định hiện hành.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định tỷ lệ bố trí viên chức theo từng bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm. Với vị trí có bậc cao nhất là bậc 5, số viên chức ở bậc này không vượt quá 30% tổng biên chế được giao; bậc liền kề không vượt quá 40%. Trường hợp vị trí có bậc cao nhất là bậc 4, tỷ lệ ở bậc này không vượt quá 40%; nếu vị trí chỉ sử dụng hai bậc nghề nghiệp thì tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50%.
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, tự bảo đảm chi đầu tư hoặc một số trường hợp theo quy định của pháp luật chuyên ngành, đơn vị được quyết định tỷ lệ bố trí viên chức theo bậc nghề nghiệp khác với tỷ lệ chung, phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính.
Nghị định số 232/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.