Mảnh ghép an ninh năng lượng
Chiều 17/4, Tạp chí Năng lượng mới (PetroTimes) tổ chức tọa đàm “Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp”.
Phát biểu khai mạc tọa đàm, nhà báo Lê Hà Thanh Ngọc, Phó Tổng biên tập Tạp chí Năng lượng mới nhấn mạnh, trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới tiềm ẩn nhiều biến động, việc chủ động đa dạng hóa nguồn cung, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và từng bước chuyển sang các nguồn năng lượng sạch hơn là yêu cầu tất yếu. Xăng sinh học E10, với tỷ lệ phối trộn ethanol cao hơn, được kỳ vọng không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn tạo động lực cho chuỗi giá trị sản xuất nhiên liệu sinh học trong nước.
Quang cảnh tọa đàm “Xăng sinh học E10 - Lợi ích hài hòa cho người dân, Nhà nước và doanh nghiệp”.
Các nội dung thảo luận trong buổi tọa đàm tập trung vào ba trục chính: Cơ sở khoa học và tính an toàn của xăng E10 đối với phương tiện và người sử dụng; tác động kinh tế - thị trường (bao gồm chi phí, giá thành, khả năng cạnh tranh và lợi ích đối với doanh nghiệp...) và khung chính sách và lộ trình triển khai, đặc biệt là bài học kinh nghiệm từ việc phát triển xăng E5 trước đây.
Đáng chú ý, vấn đề niềm tin của người tiêu dùng và hệ thống phân phối tiếp tục được đặt ra như một điểm nghẽn cần tháo gỡ. Qua khảo sát của PetroTimes, có những ý kiến cho rằng, để E10 có thể đi vào thực tiễn, cần đồng bộ cả ba yếu tố: truyền thông minh bạch, chính sách đủ mạnh và sự vào cuộc chủ động của doanh nghiệp.
Trong khi đó, từ góc độ doanh nghiệp, đại diện các đơn vị đầu mối xăng dầu và lọc hóa dầu cũng chia sẻ những tính toán liên quan đến nguồn cung ethanol, hạ tầng phối trộn, cũng như bài toán hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Tại tọa đàm, PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành (Đại học Bách khoa Hà Nội) đã chia sẻ về việc người dân được lợi gì khi sử dụng E10, từ hiệu suất vận hành, độ bền động cơ cho đến chi phí sử dụng.
Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, trước hết, cần hiểu rõ xăng sinh học E10 là loại nhiên liệu gồm khoảng 10% ethanol và 90% xăng khoáng. Với tỷ lệ phối trộn ethanol ở mức 10%, đây là mức khá thấp nhưng đủ để cải thiện một số tính chất của nhiên liệu. Cụ thể, ethanol có chứa oxy, giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra hoàn thiện hơn, sạch hơn. Nhờ đó, hiệu suất đốt cháy được cải thiện, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành của động cơ.
PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành.
“Một số ý kiến cho rằng ethanol có nhiệt trị thấp hơn xăng khoáng, nên khi pha trộn có thể làm giảm năng lượng của nhiên liệu, dẫn đến tăng tiêu hao. Tuy nhiên, trên thực tế, mức chênh lệch nhiệt trị này không lớn (chỉ khoảng vài phần trăm) và được bù đắp bởi quá trình cháy hiệu quả hơn trong động cơ. Các nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy, khi sử dụng xăng E10, công suất động cơ và mức tiêu hao nhiên liệu về cơ bản tương đương với xăng khoáng. Thậm chí, trong một số trường hợp, mức tiêu thụ nhiên liệu còn có thể được cải thiện nhờ quá trình cháy tối ưu hơn”, PGS.TS Phạm Hữu Tuyến nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, lợi ích rõ rệt của xăng E10 là giảm phát thải. Các chất độc hại như khí CO (carbon monoxide) và một số hợp chất hữu cơ chưa cháy hết được cắt giảm đáng kể. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn tốt hơn cho sức khỏe cộng đồng. Về chi phí, với các chính sách hỗ trợ hiện nay, xăng E10 thường có giá thấp hơn xăng khoáng, giúp người tiêu dùng tiết kiệm chi phí vận hành phương tiện.
Quan trọng hơn, xăng E10 đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong nhiều thập kỷ, tại các quốc gia như Mỹ, Brazil hay Thái Lan. Thực tiễn cho thấy, loại nhiên liệu này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến độ bền động cơ và hoàn toàn phù hợp với các phương tiện đang lưu hành.
Chủ động nguồn cung năng lượng
Thông tin về việc phát triển nhiên liệu sinh học E10 sẽ góp phần như thế nào trong góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) cho rằng, E10 cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ môi trường, mà rộng hơn là một phần quan trọng trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đặc biệt, trong giai đoạn vừa qua khi chúng ta thấy là sự đứt gãy do xung đột ảnh hưởng lớn tới nguồn cung xăng dầu. Trong đó, nhiên liệu sinh học như E10 còn tạo ra một chuỗi giá trị trong nước, từ nguyên liệu, sản xuất ethanol, phối trộn cho đến phân phối. Điều đó giúp nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ mục tiêu chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh hơn, bền vững hơn.
Ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam.
“Bên cạnh đó, việc sản xuất ethanol rất phù hợp với lợi thế về mặt địa lý của Việt Nam và các nước lân cận. Và với lợi thế đó, chúng ta có thể chủ động sản xuất ethanol ở trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước lân cận như Thái Lan, Philippines để đảm bảo nguồn để phối trộn nhiên liệu sinh học”, ông Mai Tuấn Đạt nhấn định.
Theo lãnh đạo BSR, hiện nay, với các nhà máy đã đầu tư thì chúng ta có năng lực sản xuất khoảng 600.000 m3/năm và hiện đang hướng tới con số 1 triệu m3/năm. Đây là một nguồn lớn đảm bảo phối trộn xăng E10 cung ứng cho cả nước. Và với việc sản xuất ethanol với sản lượng khoảng 1 triệu m3/năm sẽ tạo ra quy mô kinh tế khoảng 20 nghìn tỉ mỗi năm. Chính vì vậy, có thể khẳng định cả về góc độ kỹ thuật, kinh tế và năng lực sản xuất ở trong nước đều cho thấy chương trình nhiên liệu sinh học là giải pháp vô cùng quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Trao đổi về việc xăng E10 đang được đặt ở vị trí nào trong chiến lược chuyển đổi năng lượng của ngành Công Thương, TS. Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết, định hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững là chủ trương có từ lâu và xuyên suốt của Chính phủ. Từ năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt một đề án về nhiên liệu sinh học, tiếp theo là phê duyệt thêm một chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Năm 2020, Bộ Chính trị có nghị quyết về chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
TS. Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương).
Gần nhất, Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị ban hành vào tháng 8/2025 về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến 2030, tầm nhìn 2045. Những văn bản trên đều khẳng định quan điểm xuyên suốt là phải phát triển nhiên liệu sinh học để đa dạng hóa các loại hình năng lượng, có thể thay thế một phần, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nhằm xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần bảo vệ môi trường, phát triển giao thông xanh, phát thải ròng bằng 0 theo cam kết của Chính phủ tại COP26.
Theo TS. Đào Duy Anh, nguồn nhiên liệu hóa thạch ở mỗi quốc gia có tiềm năng và trữ lượng khác nhau nhưng đều là hữu hạn, sẽ dần cạn kiệt. Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng dầu khí, tuy nhiên với những mỏ đã khai thác hay mới phát hiện có tiềm năng, tuy nhiên theo dự báo khoảng 15 năm tới sẽ dần cạn kiệt.
“Vì vậy, cần tìm kiếm nguồn nguyên liệu có khả năng tái tạo và nhiên liệu sinh học là một trong những loại nguyên liệu đó. Việt Nam có tiềm năng về nông - lâm nghiệp, vì vậy có triển vọng lớn để xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp về nhiên liệu sinh học”, đại diện Bộ Công Thương thông tin.
Khi sử dụng nhiên liệu sinh học, nếu nâng tỷ lệ phối trộn sẽ từng bước giảm phụ thuộc vào xăng khoáng. Việt Nam hiện có 2 nhà máy lọc dầu có thể đáp ứng khoảng 70% như cầu xăng dầu quốc gia (trong đó 40% nhập khẩu dầu thô từ Trung Đông, nên thời gian qua đã xảy ra ảnh hưởng khá lớn), nhập khẩu thêm 30% xăng dầu thành phẩm. Do đó, ý nghĩa của việc sử dụng nhiên liệu sinh học càng tăng lên, nếu phối trộn 10% nhiên liệu sinh học vào trong xăng thì sẽ giảm phụ thuộc thêm 10% vào xăng khoáng.
Theo TS. Đào Duy Anh, xăng E10 là bước khởi đầu, Bộ Công Thương không chỉ dừng ở E10 mà còn tiếp đến E15, E20 hoặc cao hơn. Mỹ có nền công nghiệp cao đã sử dụng xăng E10 từ những năm 80 của thế kỷ trước, hiện nay đã dùng đến xăng E85. Philippines, Thái Lan hiện đang sử dụng phổ biến E15, từ 2026 nâng lên E20. Việt Nam đang đi sau so với các nước trên nhưng việc chuyển đổi cần có lộ trình, tạo sự đồng thuận trong xã hội.