Đóng

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi hướng tới mục tiêu 1 tỷ USD

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 141 triệu USD trong hai tháng đầu năm 2026, tăng mạnh so với cùng kỳ, tạo nền tảng để ngành hướng tới mục tiêu xuất khẩu 1 tỷ USD.

Sản lượng chăn nuôi tăng ổn định

Sáng 12/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị phòng, chống dịch bệnh và phát triển chăn nuôi bền vững nhằm đánh giá tình hình sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và định hướng phát triển ngành trong giai đoạn tới.

Toàn cảnh Hội nghị phòng, chống dịch bệnh và phát triển chăn nuôi bền vững. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi và Thú y, giai đoạn 2021 – 2024, ngành chăn nuôi Việt Nam duy trì đà tăng trưởng khá ổn định. Sản lượng thịt hơi các loại tăng từ 6,85 triệu tấn năm 2021 lên 8,3 triệu tấn năm 2024, tương đương mức tăng trưởng bình quân khoảng 5,31%/năm. Năm 2025 dự kiến đạt 8,66 triệu tấn, tiếp tục phản ánh xu hướng phát triển tích cực của ngành.

Cùng với sản lượng tăng, mức tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi trong nước cũng mở rộng đáng kể. Tổng lượng thịt tiêu thụ bình quân đầu người tăng từ 69,6 kg năm 2021 lên 87,6 kg năm 2025, tương ứng mức tăng trưởng khoảng 5,9%/năm.

Trong cơ cấu tiêu dùng, thịt lợn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, với mức tiêu thụ tăng từ 45,7 kg lên 54,9 kg/người/năm. Tiếp đến là thịt gia cầm, tăng từ 21,9 kg lên 25,8 kg/người/năm, trong khi thịt trâu, bò duy trì ở mức ổn định khoảng 6,3 kg/người/năm.

Đối với các sản phẩm khác, tiêu thụ trứng gia cầm tăng từ 178,9 quả lên 212 quả/người/năm, còn sữa tươi tăng từ 10,8 lít lên 12,95 lít/người/năm. Những con số này cho thấy nhu cầu tiêu dùng thực phẩm giàu dinh dưỡng, tiện lợi và an toàn ngày càng gia tăng, đồng thời phản ánh mức sống của người dân được cải thiện.

Hiện ngành chăn nuôi cung cấp khoảng hơn 20 triệu tấn thực phẩm mỗi năm, đáp ứng nhu cầu của gần 100 triệu dân, đồng thời từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu.

Trong giai đoạn 2024 – 2025, công tác kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật tiếp tục được triển khai nghiêm theo quy định của pháp luật, góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn thực phẩm và hỗ trợ hoạt động thương mại quốc tế.

Xuất khẩu một số nhóm sản phẩm chăn nuôi ghi nhận kết quả tích cực. Đối với thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất, khối lượng xuất khẩu tăng từ 388 triệu kg năm 2024 lên gần 420 triệu kg năm 2025, tương ứng mức tăng 8,15%.

Xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt duy trì ổn định ở mức 15,4 – 15,6 triệu kg mỗi năm. Trong khi đó, xuất khẩu động vật sống giảm mạnh, từ 308.579 con năm 2024 xuống còn 70.553 con năm 2025, chủ yếu do biến động nhu cầu thị trường và các yêu cầu kiểm soát dịch bệnh ngày càng chặt chẽ từ phía các nước nhập khẩu.

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất vẫn ở mức cao. Khối lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu đạt khoảng 1,29 tỷ kg năm 2025, tăng nhẹ so với năm trước. Nhập khẩu con giống cũng tăng lên 7,54 triệu con, góp phần cải thiện chất lượng đàn vật nuôi trong nước.

Đáng chú ý, trong 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi đạt khoảng 141 triệu USD, tăng tới 84% so với cùng kỳ. Nếu duy trì đà tăng trưởng này, ngành chăn nuôi có thể hướng tới mục tiêu gia nhập nhóm ngành xuất khẩu 1 tỷ USD vào năm 2027.

Tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc BAF Việt Nam, cho biết chăn nuôi lợn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh thực phẩm và ổn định thị trường thực phẩm trong nước.

Hiện tổng đàn lợn cả nước khoảng 28 – 30 triệu con, sản lượng thịt lợn đạt 4,5 – 5 triệu tấn mỗi năm, chiếm khoảng 65% tổng lượng thịt tiêu thụ. Vì vậy, ổn định ngành chăn nuôi lợn cũng đồng nghĩa với ổn định thị trường thực phẩm.

Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch bệnh còn tiềm ẩn, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi biến động mạnh và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, ngành chăn nuôi lợn đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi sang mô hình hiện đại, an toàn sinh học và vận hành theo chuỗi giá trị.

Theo ông Nguyễn Văn Minh, ngành chăn nuôi lợn vẫn đối mặt nhiều thách thức như nguy cơ dịch bệnh, chi phí sản xuất cao và thiếu hệ thống dữ liệu dự báo thị trường. Đặc biệt, dịch tả lợn châu Phi vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát, đòi hỏi ngành phải đặt an toàn sinh học làm nền tảng cho phát triển bền vững.

Ngoài ra, giá thành sản xuất lợn của Việt Nam vẫn cao hơn nhiều nước trong khu vực do phụ thuộc lớn vào nguyên liệu thức ăn nhập khẩu, chi phí phòng chống dịch bệnh cao và quy mô sản xuất chưa tối ưu.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp đề xuất đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi, nâng cấp hệ thống an toàn sinh học, phát triển trang trại quy mô lớn và thúc đẩy chuỗi giá trị khép kín từ thức ăn – chăn nuôi – giết mổ – chế biến – phân phối.

Một hướng đi quan trọng khác là phát triển chăn nuôi gắn với nông nghiệp tuần hoàn, tận dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất phân hữu cơ, năng lượng sinh học và phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Theo tầm nhìn đến năm 2035, ngành chăn nuôi lợn Việt Nam hướng tới mục tiêu 70 – 80% sản lượng đến từ chăn nuôi công nghiệp hiện đại, giảm 15 – 20% giá thành sản xuất, 100% trang trại lớn đạt chuẩn an toàn sinh học và từng bước đưa thịt lợn Việt Nam tham gia thị trường xuất khẩu.

Phát biểu tại hội nghị, ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết chăn nuôi hiện chiếm khoảng 26% giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh thực phẩm và tăng trưởng kinh tế.

Theo Thứ trưởng, trong bối cảnh xu hướng chăn nuôi toàn cầu chuyển mạnh sang mô hình quy mô lớn, công nghệ cao, xanh và bền vững, ngành chăn nuôi Việt Nam cần chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang phát triển chuỗi giá trị khép kín từ giống, thức ăn, chăn nuôi, giết mổ, chế biến, phân phối.

Trong thời gian tới, ngành sẽ tập trung nâng cao chất lượng con giống, chủ động nguồn thức ăn, tăng cường phòng chống dịch bệnh, xây dựng vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh và đẩy mạnh chế biến sâu để mở rộng thị trường xuất khẩu.

“Việc tái cơ cấu theo hướng hiện đại, an toàn sinh học và bền vững không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi Việt Nam mà còn góp phần ổn định sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn tới”, ông Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.

Theo IMF, dự báo năm 2026, ngành chăn nuôi toàn cầu, nguồn cung thịt dự kiến tiếp tục ở mức cao; cạnh tranh về giá, tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và phát thải sẽ ngày càng gay gắt. Điều này đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam phải nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất, chủ động một phần nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và đẩy mạnh phát triển chuỗi giá trị bền vững nhằm thích ứng với bối cảnh kinh tế thế giới giai đoạn 2025–2026.

Nguyễn Hạnh