Đóng

Bộ Công Thương chốt phương pháp tính giá điện BOT

Thông tư 30/2026/TT-BCT vừa được ban hành, quy định cụ thể cơ chế xác định và điều chỉnh giá dịch vụ phát điện của nhà máy điện BOT.

Chi tiết phương pháp tính giá điện BOT

Ngày 10/6, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 30/2026/TT-BCT quy định phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện đối với các nhà máy điện đầu tư theo hình thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT). Thông tư có hiệu lực từ ngày 28/7/2026.

Thông tư được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật Điện lực năm 2024 liên quan đến nguyên tắc tính giá điện và phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện đối với các dự án điện BOT. Đối tượng áp dụng gồm các tổ chức, cá nhân sở hữu nhà máy điện BOT phù hợp Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhưng chưa ký hợp đồng mua bán điện; Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thông tư 30/2026/TT-BCT quy định chi tiết phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện của các nhà máy điện BOT, áp dụng từ ngày 28/7/2026. Ảnh: Mạnh Hùng

Theo Thông tư, giá dịch vụ phát điện của nhà máy điện BOT được xây dựng trên cơ sở các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ của chủ đầu tư trong toàn bộ vòng đời kinh tế của dự án. Đáng chú ý, tỷ suất sinh lợi nội tại về tài chính (IRR) của dự án không được vượt quá 12%.

Giá dịch vụ phát điện được cấu thành từ hai thành phần chính gồm giá công suất và giá điện năng. Trong đó, giá công suất bao gồm giá cố định bình quân và chi phí vận hành, bảo dưỡng cố định; giá điện năng bao gồm chi phí nhiên liệu biến đổi và chi phí vận hành, bảo dưỡng biến đổi. Thông tư cũng quy định việc xác định giá dịch vụ phát điện bằng ngoại tệ (nếu có) phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối và chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Một nguyên tắc quan trọng khác là giá dịch vụ phát điện dùng để so sánh với khung giá phát điện tại năm cơ sở không được vượt quá khung giá phát điện đối với loại hình nhà máy điện BOT do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành. Để xác định giá công suất, Thông tư quy định căn cứ vào giá cố định bình quân và giá vận hành, bảo dưỡng cố định năm cơ sở. Trong đó, giá cố định bình quân được xây dựng trên cơ sở phân tích tài chính toàn bộ dự án. Các thông số đầu vào bao gồm tổng mức đầu tư được phê duyệt, thời gian vận hành của dự án theo hợp đồng BOT, công suất hợp đồng, thời gian khấu hao tài sản, cơ cấu vốn chủ sở hữu và vốn vay, lãi suất vay cũng như nghĩa vụ thuế, phí theo quy định.

Chi phí đầu tư được tính trên cơ sở toàn bộ các khoản chi thuộc trách nhiệm của bên bán điện đến điểm đấu nối, bao gồm nhà máy điện, hạ tầng kỹ thuật, cầu cảng, hệ thống đấu nối và các chi phí liên quan khác. Đối với chi phí vận hành và bảo dưỡng cố định, Thông tư chia thành hai nhóm chính gồm chi phí sửa chữa lớn và các chi phí khác; chi phí nhân công. Các khoản chi phí này được tính toán theo tỷ lệ trên tổng chi phí xây dựng và thiết bị của dự án, do bên bán điện và bên mua điện thỏa thuận.

Về giá điện năng, thành phần quan trọng nhất là giá nhiên liệu biến đổi. Giá này được xác định dựa trên chi phí nhiên liệu chính, nhiên liệu phụ và chi phí vận chuyển nhiên liệu.

Đối với nhà máy nhiệt điện than, giá vận chuyển được xác định theo bình quân gia quyền của các hợp đồng vận chuyển than. Với nhà máy nhiệt điện khí thiên nhiên, căn cứ là giá dịch vụ vận chuyển khí bằng đường ống. Đối với các nhà máy sử dụng LNG, giá vận chuyển được tính trên cơ sở chi phí tồn trữ, tái hóa, vận chuyển và phân phối khí thiên nhiên hóa lỏng. Thông tư cũng cho phép trường hợp hợp đồng mua bán nhiên liệu đã bao gồm chi phí vận chuyển, thành phần giá vận chuyển nhiên liệu được tính bằng 0 để tránh tính trùng chi phí.

Điều chỉnh giá theo biến động thị trường

Một trong những nội dung đáng chú ý của Thông tư là cơ chế điều chỉnh giá dịch vụ phát điện trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán điện. Theo đó, các thành phần chi phí vận hành và bảo dưỡng sẽ được điều chỉnh định kỳ. Chi phí sửa chữa lớn và các chi phí khác được điều chỉnh theo thỏa thuận giữa bên bán điện và bên mua điện. Đối với các hạng mục có nguồn gốc ngoại tệ, hai bên có thể thống nhất cơ chế điều chỉnh phù hợp.

Riêng chi phí nhân công được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng (CPI), phản ánh biến động thực tế của nền kinh tế. Thông tư cũng quy định cơ chế xử lý chênh lệch tỷ giá đối với các khoản vay ngoại tệ. Hằng năm, căn cứ số liệu thực tế về dư nợ, lãi vay và tỷ giá, các bên sẽ tính toán, thống nhất phương án thanh toán chênh lệch tỷ giá theo công thức cụ thể được quy định trong Thông tư.

Tại thời điểm thanh toán tiền điện, giá dịch vụ phát điện bao gồm giá công suất và giá điện năng được cập nhật theo biến động của nhiên liệu, chi phí vận hành, bảo dưỡng và hiệu suất vận hành thực tế của nhà máy. Tiền điện thanh toán hàng tháng được xác định trên cơ sở công suất tin cậy, sản lượng điện giao nhận, các khoản chi phí phát sinh hợp lệ cùng các loại thuế, phí theo quy định của pháp luật. Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của bên mua điện và bên bán điện trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán điện, cung cấp số liệu, xác định công suất tin cậy, tính toán chênh lệch tỷ giá và điều chỉnh giá điện khi cần thiết.

Việc ban hành Thông tư 30/2026/TT-BCT góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động đàm phán hợp đồng mua bán điện của các dự án BOT, đồng thời tăng tính minh bạch trong xác định giá điện, tạo điều kiện thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Phương Cúc