Ông Nguyễn Minh Khôi - Giám đốc Chính sách và Chuyển đổi số, Viện Tony Blair đã có chia sẻ với Báo Công Thương về truy xuất nguồn gốc trong bối cảnh nhiều thị trường đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe về nguồn gốc xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu.
Thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu cao về xuất xứ đối với hàng hóa. Ảnh minh họa
Truy xuất nguồn gốc tăng niềm tin thương hiệu
- Từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của Viện Tony Blair, ông có thể chia sẻ những mô hình truy xuất nguồn gốc tiên tiến đang được triển khai tại châu Âu hoặc một số quốc gia ASEAN mà Việt Nam có thể tham khảo?
Ông Nguyễn Minh Khôi: Truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là mối liên hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, mà phải tạo được sự kết nối xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị hàng xuất khẩu, từ nhà sản xuất, đơn vị vận chuyển, cơ quan hải quan các nước, hệ thống logistics tại thị trường sở tại, nhà phân phối, cho đến người tiêu dùng cuối cùng.
Kinh nghiệm triển khai của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước châu Âu và khu vực ASEAN cho thấy, việc ứng dụng công nghệ blockchain và trí tuệ nhân tạo (AI) trong truy xuất nguồn gốc đang được đẩy mạnh.
Trong khu vực ASEAN, Thái Lan và Indonesia đang nổi lên là những quốc gia đi đầu khi triển khai đồng thời blockchain và AI cho truy xuất nguồn gốc. Đáng chú ý, các hệ thống này không chỉ phục vụ quản lý nội địa, mà còn được kết nối trực tiếp với người tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu, tạo nên mạng lưới truy xuất nguồn gốc xuyên quốc gia, gia tăng niềm tin và giá trị thương hiệu cho hàng hóa.
Từ kinh nghiệm và bài học quốc tế, có thể thấy rằng quản trị mới là yếu tố mang tính quyết định, thậm chí quan trọng hơn bản thân công nghệ. Ở một mức độ tương đối, nếu công nghệ chỉ chiếm khoảng 30% thì năng lực quản trị, tổ chức vận hành và phối hợp giữa các chủ thể trong chuỗi chiếm tới 70% khả năng quyết định thành công của mô hình truy xuất nguồn gốc hiện đại.
- Trước bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế, ông đánh giá ra sao về năng lực chuyển đổi số của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay trong truy xuất nguồn gốc?
Ông Nguyễn Minh Khôi: Đối với doanh nghiệp có tiềm lực, theo tôi, yếu tố liên quan đến chuyển đổi số hay nguồn lực của họ đều rất rõ ràng và có khả năng đáp ứng. Tuy nhiên, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã đang đối mặt với bài toán nguồn lực hạn chế, dù tinh thần chuyển đổi số của họ là rất lớn.
Về bài toán lựa chọn giữa tiết kiệm chi phí hay áp dụng công nghệ cho truy xuất nguồn gốc, tôi cho rằng cả hai phương án đều đi kèm với những chi phí nhất định. Ví dụ người nông dân có thể ghi chép thông tin bằng sổ tay nông hộ nhưng vẫn phát sinh thêm chi phí để cập nhật dữ liệu lên hệ thống.
Bên cạnh đó, chúng ta không chỉ nên giảm chi phí nhờ áp dụng truy xuất nguồn gốc, mà quan trọng hơn là thông qua việc đồng bộ hóa, áp dụng một hệ thống chung, giúp doanh nghiệp không phải đầu tư thêm nhiều hệ thống riêng lẻ. Nhiều hệ thống truy xuất nguồn gốc riêng lẻ nhưng lại thiếu đồng bộ và không tích hợp với nhau cũng không tạo ra hiệu quả.
Ông Nguyễn Minh Khôi - Giám đốc Chính sách và Chuyển đổi số, Viện Tony Blair. Ảnh: Diệu Anh
Chuẩn hóa các dữ liệu đầu vào
- Từ thực tế hiện nay, quan điểm của ông như thế nào về việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc tích hợp vào hệ sinh thái nhằm tận dụng các FTA?
Ông Nguyễn Minh Khôi: Về việc tích hợp hệ thống truy xuất nguồn gốc trong hệ sinh thái FTA, chúng ta phải thực hiện từng bước. Bởi vì cho đến nay, tính tương thích cũng như khả năng thích ứng của hệ thống đó tại Việt Nam chưa rõ ràng. Đồng thời, khi đánh giá tiềm năng và tính sẵn sàng của Việt Nam nếu triển khai các hệ thống truy xuất nguồn gốc, tôi nghĩ chúng ta đang ở giai đoạn có được cả nhu cầu về phía cầu và phía cung.
Ở phía cầu lại xuất phát từ phía doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Ở các đối tác quốc tế có hai yếu tố chúng ta cần phải cân nhắc, cụ thể:
Thứ nhất, là nhu cầu về đáp ứng quy chuẩn, các yêu cầu bắt buộc, ví dụ như các nước châu Âu hay thị trường Mỹ, Hàn Quốc đã đặt yêu cầu rất rõ ràng. Trong vòng một đến hai năm nữa, hộ chiếu số về sản phẩm là yêu cầu bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp dệt may Việt Nam muốn xuất khẩu.
Thứ hai, là cạnh tranh. Chúng ta có rất nhiều các đối tác cạnh tranh trên thế giới và họ đã áp dụng những công nghệ truy xuất nguồn gốc. Điều này tạo sức ép cho các doanh nghiệp Việt Nam phải triển khai.
- Vậy, theo ông làm thế nào để đảm bảo tính minh bạch, đồng thời bảo vệ dữ liệu của doanh nghiệp trong hệ thống truy xuất nguồn gốc, đặc biệt khi hệ thống này được tích hợp vào hệ sinh thái nhằm tận dụng các FTA của các ngành hàng?
Ông Nguyễn Minh Khôi: Về các tiêu chuẩn dữ liệu và bảo vệ dữ liệu, yêu cầu đặt ra trước hết là phải chuẩn hóa ngay từ đầu. Trong đó, có hai khía cạnh cốt lõi. Thứ nhất, là chuẩn hóa các dữ liệu đầu vào, bảo đảm thông tin được thu thập đầy đủ, thống nhất và có khả năng liên thông. Thứ hai, là áp dụng chặt chẽ các tiêu chí, chuẩn mực quốc tế về quản lý và bảo vệ dữ liệu.
Ở góc độ quản lý nhà nước, cần xác định rõ bộ tiêu chuẩn dữ liệu được sử dụng làm nền tảng chung. Chẳng hạn, có thể tham chiếu các quy định về quản trị và chia sẻ dữ liệu của Liên minh châu Âu (EU), đồng thời kết hợp với hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam về chuẩn hóa và quản lý dữ liệu. Việc xác định rõ các tiêu chuẩn “đầu vào” ngay từ đầu là cơ sở quan trọng để đánh giá năng lực của doanh nghiệp, từ đó triển khai áp dụng một cách phù hợp và hiệu quả.
Khi các tiêu chuẩn về chuẩn hóa dữ liệu, quản lý dữ liệu và bảo mật dữ liệu được thiết lập rõ ràng, minh bạch, chúng ta có thể chứng minh cho doanh nghiệp thấy tính ưu việt của hệ thống, cũng như mức độ an toàn, tin cậy và khả năng được thị trường quốc tế chấp nhận.
Xin cảm ơn ông!
Ông Nguyễn Minh Khôi - Giám đốc Chính sách và Chuyển đổi số: Thực tế cho thấy, nếu doanh nghiệp đầu tư vào một hệ thống truy xuất nguồn gốc không được các thị trường lớn thừa nhận không chỉ gây lãng phí nguồn lực, mà còn không bảo đảm tính bền vững lâu dài. Mặt khác, việc đầu tư công nghệ thiếu chuẩn hóa, sau đó buộc phải dừng hoặc làm lại sẽ khiến doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí rất lớn.